HỌA THƠ ĐƯỜNG

0
179

HỌA THƠ ĐƯỜNG
VÀ VÀI CẢM NGHĨ VỀ THOÁT TRUNG

(Tặng Laiquangnam Lai Nguyễn Hàn Chung)

I.
Bắt đầu từ bài thơ tiễn đưa KINH KHA qua sông Dịch đi ám sát TẦN THỦY HOÀNG:

“Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.”
(Gió hiu hiu thổi, sông Dịch lạnh ghê,
Tráng sĩ một đi không bao giờ về.)

Lạc Tân Vương đã viết bài: Dịch Thủy Tống Biệt

1. Nguyên tác

Dịch Thủy Tống Biệt

Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một
Kim nhật thủy do hàn.
(Lạc Tân Vương – đời Đường)

Đây chỗ biệt Yên Đan
Tóc dựng khí căm gan
Anh hùng xưa đã khuất
Nước lạnh hận chưa tan.
(NGUYỄN HIẾN LÊ dịch)

2. Hoạ thơ

21. Diên Hồng Dương họa thơ:

Khứ niên tráng sĩ biệt
Dịch Thủy hàn căm căm
Kim nhật vọng cố quốc
Bạch đầu tâm bất trầm.

Anh hùng xưa ra đi
Nước sông Dich lạnh căm
Hôm nay nhớ cố quốc
Bạc đầu lòng không an
(Nguyên Lạc lược dịch)

22. Nguyên Lạc họa thơ:

Khứ niên mạc sĩ biệt
Đông hải hàn căm căm
Kim nhật vọng cố quốc
Cố nhân hề vô âm!

Kim nhật vọng cố quốc
Cố nhân … bất khả tầm!

Năm xưa CÙNG SĨ bỏ đi
Nước biển ĐÔNG lạnh căm căm
Nay nhớ về cố quốc
Người xưa giờ biệt tăm

Nay nhớ về cố quốc
Người xưa …ơi nơi nào?! (không thể tìm!)

(Nguyên Lạc lược dịch)

II. HỌA THƠ TÔ ĐÔNG PHA

1. Nguyễn Hàn Chung:

“Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương” (Tô Đông Pha )
(Ngóng người đẹp trời chỉ một phương)

2. Lac Nguyen:

“Vọng cố nhân hề địa đa phương
Mạc anh hùng hề nhân vô phương !” (Nguyên Lạc )

Ngóng người xưa đất nhiều hướng
Người anh hùng khốn cùng không còn nơi nào để đi!
(Nguyên Lạc lược dịch)

Chú ý đến 3 chữ THIÊN, ĐỊA và NHÂN. Trời trên, đất dưới và người ở giữa ( Quẻ CÀN)(1)

III. VÀI CẢM NGHĨ VỀ THOÁT TRUNG

Kinh Kha đi hành thích Tần Thủy Hoàng là chuyện có thật trong Sử Ký của Tư Mã Thiên. Nhưng nhân vật này rất tầm thường so với các anh hùng Việt Nam, sao chúng ta lại ca tụng quá sức vậy? Hãy đọc kỹ sẽ thấy KINH KHA là tên bất tài, bất tướng, chỉ bị người ta lợi dụng và Thái Tử Đan mua chuộc thôi. Võ lược cũng chẳng ra gì!

Này nhé:

1.Nguyễn Du chê bai Kinh Kha.

Trong SỬ KÝ của Tư Mã Thiên có chép:

“…Thái tử Đan tôn Kinh Kha lên làm Thượng Khanh, xây một biệt thự đối diện với biệt thự Phàn Ô Kỳ, gọi là Kinh Quán để Kinh Kha ở. Thái tử Đan ngày ngày đến thăm, cung phụng đúng mức, hiến đủ thứ ngựa xe và gái đẹp.
Một hôm Kinh Kha cùng Thái tử Đan đi chơi ở Đông Cung, thấy dưới ao có con rùa lớn nổi lên. Kinh Kha nhặt viên ngói để ném rùa, Thái tử Đan liền lấy thoi vàng đưa Kinh Kha thay viên ngói. Lại một hôm hai người cùng thi cưỡi ngựa, Thái tử Đan có con ngựa quí đi ngàn dậm. Kinh Kha bỗng nói:
-Gan ngựa ăn ngon lắm. Thái tử Đan lập tức giết ngựa lấy gan cho Kinh Kha ăn. Thái tử Đan lại giới thiệu Phàn Ô Kỳ với Kinh Kha. Và một hôm mở tiệc đãi Kinh Kha ở Hoa Dương Đài. Có cho mỹ nhân đén hầu hạ, Lại khiến gảy đàn cầm giúp vui. Kinh Kha thấy hai bàn tay của mỹ nhân trắng muốt., thoan thoát chạy trên những đường tơ. Khiến Kinh Kha buộc miệng khen:
-Thật là tay tiên. Đẹp làm sao !
Lúc tan tiệc nội thị dâng Kinh Kha một hộp ngọc. Kinh Kha mở ra xem, thì đó là hai bàn tay của mỹ nữ, mà Thái tử Đan sai chặt đem biếu Kinh Kha.
Kinh Kha than,
-Thái tử Đan đãi ta như thế ấy, dẫu chết cũng chưa trả được ơn sâu …”

Ngày nay đọc đoạn văn ấy, chúng ta không thấy xúc động như Kinh Kha, mà nổi giận, tại sao Thái tử Đan tàn bạo đến thế. Thái tử Đan tàn bạo có kém chi Tần Thủy Hoàng. Thủy Hoàng sai bỏ con của Lao Ái và mẹ là Triệu Cơ vào bao rồi đập chết, còn có lý do. Thái tử Đan chỉ vì muốn Kinh Kha trả thù cho mình, vì một lời khen bàn tay đẹp mà giết mỹ nhân vô cớ, thật tàn bạo ? Sao Thái tử Đan không tặng Kinh Kha mỹ nữ, mà chặt tay mỹ nữ như con ngựa, con heo, thì đâu là lòng nhân ?

Nguyễn Du chê bai Kinh Kha, không bằng Dự Nhượng. Dự Nhượng hy sinh thân mình báo thù cho chủ, còn Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng, muốn diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ, mà hành động vì sự kích động của Điền Quang, của Thái tử Đan. Hành động của Kinh Kha không có Trí mà chỉ vì Danh. Không có lòng Nhân mà chỉ có Bạo lực đối với Bạo lực. Cái Dũng của Kinh Kha chỉ là cái dũng của kẻ bị mồi ngon thừa mứa, cám dỗ mà hành động.

Đây là trích đoạn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, phần chê bai Kinh Kha

Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.
(KINH KHA CỐ LÝ – Thơ chữ Hán Nguyễn Du)

Liều thân chỉ vì kẻ biết mình,
Huống được Điền Quang tự đâm cổ.
Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi.
Đem đầu cho mượn chẳng hoàn gì.
Một sớm chết oan ba liệt sĩ.
Hàm Dương, Thiên tử vẫn uy nghi.
(Nhất Uyên dịch)
(Theo Phạm Trọng Chánh – Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V)

2.KINH KHA võ lược tầm thường

Trong SỬ KÝ của Tư Mã Thiên có chép:

[… Tần Thủy Hoàng:
– Đưa địa đồ Vũ Dương cầm đó lên đây.
Kinh Kha liền cầm địa đồ dâng lên. Vua Tần mở địa đồ. Khi giở hết địa đồ thì cái chủy thủ(như dao găm bây giờ) hiện ra. Kinh Kha liền tay trái nắm lấy áo vua Tần, tay phải cầm chủy thủ chĩa vào người (hành động của Kinh Kha không dứt khoát, thủ pháp không nhanh nhẹn). Đao chưa đến người, vua Tần sợ hãi vùng đứng dậy. ống áo đứt, vua Tần tuốt kiếm, kiếm dài, vua nắm lấy bao kiếm. Lúc bấy giờ hoảng hốt, kiếm lại chặt nên không rút ra được ngay. Kinh Kha đuổi theo vua Tần, vua Tần chạy quanh cột trụ (vua trang phục thường rườm rà, nên không nhanh nhẹn vậy mà Kinh Kha cũng không thể nào đuổi kịp, chứng tỏ thân pháp của Kinh Kha có vấn đề, không linh hoạt). Các quan luống cuống, gặp lúc hoảng hốt đều mất hết vẻ mặt lúc bình thường. Theo phép nước Tần, các quan chầu trực ở trên điện không được cầm một tấc binh khí. Các Lang Trung cầm binh khí đều đứng sắp hàng ở dưới điện, nếu không có chiếu gọi thì không được lên. Bấy giờ đang lúc gấp, không kịp gọi những người cầm binh khí ở dưới. Vì vậy Kinh Kha đuổi theo vua Tần, các quan cuống quýt không có gì để đánh trả lại, chỉ lấy tay mà đánh Kinh Kha. Lúc bấy giờ viên thầy thuốc đứng hầu tên là Hạ Vô Thư lấy túi thuốc cầm trong tay ném Kinh Kha. Vua Tần đang chạy quanh cột vẫn cuống quýt (chi tiết này đủ cho thấy Tần Thủy Hoàng cũng rất dốt về võ chứ không riêng gì Kinh Kha và cũng không giống một Tần vương thân thủ phi phàm như ta thấy trong fim) chưa biết làm thế nào. Tả hữu kêu lên:

– Nhà vua mang kiếm sau lưng.

Vua Tần đưa tay ra sau, tuốt kiếm đánh Kinh Kha, chặt đứt bắp vế bên trái. Kinh Kha què bèn cầm chủy thủ ném vua Tần. Ném không trúng (lại thêm một chi tiết rất đắt giá phản ánh rõ nét nhất về thủ cước pháp của Kinh Kha, cứ cầm dao chạy theo, không hề có phản ứng của quyền cước), trúng cái cột đồng (ngày nay trong các bức họa Kinh Kha thích Tần đều vẽ cây chủy thủ ghim vào cột là thế). Vua Tần đánh lại Kinh Kha, Kinh Kha bị tám vết thương tự biết công việc không xong bèn tựa vào cột mà cười, ngồi xổm mà mắng:

– Việc này không xong chỉ vì ta muốn để cho nó sống (lời nói rất ngạo mạn, khoác lác) mà uy hiếp nó lấy cho được giấy cam kết để đưa cho thái tử Đan…]

(Bài Viết của Nguyễn Đức Ngọc Phương)

***

Hãy ngẫm chuyện NGUYỄN TRÃI tiễn cha (2) và BÀ TRƯNG trả thù chồng (3) rồi so sánh với chuyện KINH KHA thì ta thấy ai anh hùng, ai can đảm hơn ai.!

Xin các bạn hãy THOÁT TRUNG và trở lại với Việt Nam yêu dấu của mình! Tại sao vẫn chịu mang cái VÒNG KIM CÔ mãi thế? Phải tháo ra ! Phải vượt lên, chứng tỏ ƯU ĐIỂM của riêng VIỆT NAM mình ! VIỆT NAM ta cũng có nhiều áng văn thơ tuyệt tác vậy?!

Nguyên Lạc 6/2017

—————————————————————————————-
Tham khảo: Sự Ký Tự Mà Thiên (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê), Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Đức Ngọc Phương, Thi Viện, Wikipedia

Ghi chú:

(1) Nguyên Lạc – Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán
https://khoahocnet.com/…/nguyen-lac-que-dich-cach-lap-va-g…/

(2) Khi cha (Nguyễn Phi Khanh) bị giải sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi đã theo cha lên cửa ải và tỏ ý muốn đi theo hầu hạ, nhưng Nguyễn Phi Khánh không đồng ý và khuyên ông nên về lo cứu nước báo thù nhà.Sau NGUYỄN TRÃI đã giúp LẼ LỢI đánh tan quân Mình, giành độc lập cho đất nước.(Wikipedia)

(3) Do chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc của nhà Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời, các Lạc tướng người Việt liên kết với nhau để chống lại nhà Hán. Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng có chí hướng chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt chống lại, Thái thú Tô Định giết Thi Sách.

Trưng Trắc và các Lạc tướng càng căm thù, cùng Trưng Nhị mang quân bản bộ về giữ Hát Giang nay là xã Hát Môn huyện Phúc Thọ Hà Nội. Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân các nơi thuộc Âu Lạc và Nam Việt cũ. Quân Hai Bà đánh hãm trị sở Luy Lâu.

Tô Định phải chạy về Nam Hải (Trung Quốc). Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương (hay Trưng Vương). (Wikipedia)

Image may contain: one or more people
Image may contain: flower

 

CHIA SẺ
Bài viết trướcGặp biển nhớ biển
Bài kếMƯA YÊU

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here