Truyện ngắn Nguyễn Quang Tấn

0
887

 

Những Con Mắt Loài Bò

Nếu bạn gặp một con bò, hãy nhìn vào mắt nó, bạn sẽ thấy đôi mắt ấy rất đẹp và buồn. Ngày xưa, để đánh số một con bò người ta dùng những thanh sắt uốn theo hình những con số, nung đỏ rồi áp vào lưng nó. Con bò rống lên đau đớn, như tiếng thét, hai chân trước dựng lên trời, hai chân sau chạy lảo đảo. Tiếng rống của nó ở âm vực cao, the thé, không giống như tiếng rống bình thường của loài bò, trầm đục. Nhưng dù đau đớn đến đâu, bò cũng không bao giờ dám phản ứng lại sự ác độc của thằng người tay roi tay thừng đứng cạnh nó. Nó đổ quỵ hai chân trước xuống rồi gượng dậy, chạy. Từ đó, nó mang trên lưng một con số, mang đến khi vào lò sát sinh. Cũng vậy, kẻ vô hình nào đã in vào lưng tôi một con số cũng vô hình, và tôi phải mang con số ấy cho đến giờ sau hết.

Tôi như con bò đực
Mang dưới háng một quả cà
Và trên lưng một dấu sắt nung…*

Ngày ấy tôi mười tuổi, sống ở vùng ven Đà nẵng. Sau đêm xem bộ phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ được đoàn chiếu phim lưu động chiếu miễn phí ở bãi cỏ sân trường, tôi và những đứa bé trong xóm đứa nào cũng sắm cho mình một thanh kiếm gỗ. Còn khi xem bộ phim Ngũ Quỉ Miền Viễn Tây, thì đứa nào cũng có một cái mũ cao bồi, một cây súng nhựa. Loại súng bắn bằng dây thun và đạn giấy. Với cây súng này, tôi đã bắn cô bé Hà con ông hàng xóm. Viên đạn giấy trúng mặt làm thành một vết ửng đỏ trên gò má. Cô bé im lặng, nhìn tôi không nói gì, nhưng đôi mắt cô đẫm nước. Mười tuổi mà tôi đã thấy đôi mắt cô rất đẹp và buồn. Mười tuổi mà tôi đã biết ăn năn.

Súng thì có rồi, nhưng làm sao để có ngựa cho đủ bộ đây? Thế là chúng tôi rủ nhau đến chuồng bò. Không ngựa thì cưỡi bò cũng được. Chuồng bò là một khoảng đất rộng hơn nửa sân bóng đá, nằm cạnh rừng cao su, tường xây bao quanh, nhốt mấy chục con bò. Khi chúng tôi nhảy lên lưng, có con lồng lộn tìm cách hất xuống, có con sải chân chạy huỳnh huỵch. Có con bình thản, vung đuôi đuổi ruồi. Tôi thích những con thuần tính, hiền lành. Có khi may mắn xí phần được con mang số 33. Con bò vàng khoang trắng này hễ có người nhảy lên lưng là nó chạy lon ton từng bước ngắn, rất êm, dễ điều khiển. Tôi ôm súng, rạp mình trên lưng nó hò reo đùng đoàng. Ngoài khoảng đất rộng cho bò đi lại, chuồng bò còn có một dãy nhà xây, chia thành từng ngăn nhỏ để chứa cỏ và nhốt những con bò đau ốm. Ông Tây ở trong căn phòng cuối dãy chuồng đó. Ở một mình.

Ông cao và gầy, cao hơn những người cao nhất trong vùng cả cái đầu. Nếu chỉ nghe ông nói, không ai biết ông là người ngoại quốc. Ông nói tiếng Việt giỏi như một người Việt sống ở miền Bắc, ngoài cái giọng hơi cứng, hơi ngọng ra thì cách sử dụng từ và phát âm rất chuẩn. Mỗi lần ông ra chợ, nhiều người tò mò dừng tay để nghe ông nói. Đôi mắt xanh, cái mũi lõ, mái tóc vàng nhưng miệng thì nói: “Gớm, sao mà đắt thế, nói thách vừa vừa thôi bà ạ. Bớt đi…” Nghe cũng là lạ. Các thứ ông thường mua là bánh mì, khoai lang và chuối. Toàn bộ con người ông toát ra một cái gì ẩm mốc, nhàu nát và cũ kỹ như bộ đồ ka-ki ông thường mặc. Đến bây giờ tôi cũng không biết ông là chủ những con bò hay là có phần hùn trong vùng đồn điền khai thác cao-su ở đây. Ông còn đạp xe đến nhà dạy tiếng Pháp cho vài người trong vùng, trong số đó có bố tôi. Những lúc đó các học trò ông, nhiều người có chức quyền, vẫn kính cẩn gọi ông là thầy. Ông sống thanh đạm, nghèo nàn. Người ta đồn rằng ông thất tình, buồn tình hay bị vợ bỏ gì đó, đăng lính qua Việt Nam, giải ngũ rồi xin ở lại, không về Pháp nữa. Người ta cũng không thấy ông có một người đàn bà nào. Âm thầm, cô quạnh.

Một buổi chiều, lũ trẻ đang đùng đoàng trên lưng bò thì trời mưa, mưa lớn. Vùng này hay có những cơn mưa rừng xối xả như thế. Trong màn nước giăng mù mịt, những ngọn cao-su vật vã trong gió, tiếng cây gãy, tiếng đất trời thịnh nộ. Chúng tôi “xuống ngựa” mang súng ống chạy vào nấp dưới mái hiên phòng ông Tây.

Căn phòng ẩm và tối, thoang thoảng mùi phân bò. Ở góc phòng là cái bếp dầu, cái ấm, đồ đạc lỉnh kỉnh, vài quyển sách mất bìa. Gần cửa ra vào, có một sợi dây thừng, một đầu buộc trên xà nhà, đầu kia đang ngún lửa. Đó là cách giữ lửa của ông Tây, sợi dây thừng cháy âm ỉ suốt ngày đêm, cháy hết sợi này thì thay sợi khác mà không cần bật lửa. Ông Tây ngồi trên cái ghế bố vải nhà binh, tay cầm tẩu thuốc nhưng không hút. Ông ngồi im lặng, không nhìn bọn trẻ con co ro ướt át, không nhìn cơn mưa trắng lạnh. Ông cứ nhìn mãi vào đốm lửa ở đầu sợi giây thừng, như thể nhìn vào đấy sẽ làm ông đỡ lạnh hơn. Trong phim, tôi thấy những ông Tây đẹp như những vị thần mặc áo ghi-lê, đội mũ cao, hút ống tẩu, cầm tay những bà đầm mặc váy hoa, tóc vàng óng như rơm, đi trên những đường phố thênh thang sáng láng như thiên đàng. Còn ông Tây nhàu nát, cũ kỹ, ẩm mốc này hẳn là một vị thần phạm tội, bị trời đầy xuống thế gian làm kiếp chăn bò. Trẻ con nghĩ thế. Ông Tây ngồi im lặng nhìn đốm lửa suốt cơn mưa. Đôi mắt ông đẹp và buồn như mắt loài bò, như mắt cô bé Hà bị tôi bắn đạn giấy vào mặt. Và đôi mắt ấy đã lấy đi của đứa bé một chút ngây thơ.

Mấy mươi năm trôi qua, tưởng rằng đạn bom máu lửa, áo cơm đã làm tôi quên mất ông Tây, cô bạn nhỏ và những con bò trong ký ức. Nhưng có hôm tôi về thăm anh bạn cũ ở Bù Đăng. Anh bạn kể có nuôi hai con bò, một đực một cái. Túng thiếu, anh bán mất con cái. Người mua dắt nó đi xa lắm, mãi bên kia ngọn đồi, sau cánh rừng bạch đàn.
Buổi chiều, tôi và anh bạn dắt con bò đực còn lại ra cánh đồng sau nhà cho ăn cỏ. Đang trò chuyện, tôi thoáng nghe mơ hồ một tiếng bò rống vọng đến từ rất xa. Tôi nghĩ mình nghe lầm, nhưng con bò trước mặt tôi ngừng gặm cỏ. Nó quay nhìn về phía có tiếng rống, chăm chú nghe ngóng. Bỗng dưng nó cũng rống lên rồi lao đầu chạy. Bạn tôi nắm kịp sợi dây, giữ lại. Anh cười: ‘Tiếng ái tình gọi đấy.’ Con bò không gặm cỏ nữa. Nó đứng im nhìn mãi về ngọn đồi xa, phía sau cánh rừng bạch đàn. Đôi mắt nó đẹp và buồn. Ô! Đôi mắt Ông Tây. Đôi mắt cô bé Hà bị tôi bắn đạn giấy vào mặt.Trong bóng chiều, dĩ vãng lũ lượt ùa về…
Buổi chiều mưa trong rừng cao-su.
Những cành cây gãy.
Đôi mắt đẫm nước của cô bé Hà.
Đốm lửa leo lét đầu sợi dây thừng.
Giống, giống hệt.
Giống như một cuốn phim cũ có những đoạn trầy xước tạo thành những vệt sáng lăng quăng…
Nguyễn quang tấn.
______________________
* Thơ Tây ban nha. Không nhớ tên tác giả.

CHIA SẺ
Bài viết trướcGIÓ XANH
Bài kếThơ Đinh Trường Chinh

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here