Truyện ngắn của PHẠM DUY NGHĨA

0
1207

Người bay

 

Tôi biết bay năm lên mười bốn tuổi, khi đang sống cùng mẹ ở một vùng đồi.

Lần đầu phát hiện ra mình bay được là vào một buổi chiều giữa mùa hè. Hôm ấy đi kiếm củi trên đồi hoang, tôi trèo lên một cây cao để bẻ một cành khô lớn. Chiếc cành gãy, tôi trượt chân và kinh ngạc khi thấy mình không rơi thẳng xuống đất mà bay là là trong gió, trước khi đậu xuống triền cỏ ở lưng đồi, êm nhẹ như một chiếc lá khô.

Khỏi phải nói tôi đã vui sướng đến mức nào. Hai đêm liền, tôi không ngủ.

Tôi quyết định giấu kín điều này và lặng lẽ tập bay cho đến khi thuần thục. Để khó bị ai bắt gặp, tôi đi vào núi. Từ trên những ngọn cây, tôi gieo mình vào khoảng không. Thoạt đầu chọn những cây thấp, sau cao dần. Hai cánh tay xoải rộng, tôi bay chầm chậm theo hình sin từng quãng ngắn, từ cây nọ sang cây kia, khi đuối sức thì đậu lại như chim trên ngọn cây để nghỉ. Sau nhiều ngày khổ luyện, tôi bay được từ đồi này sang đồi khác, rồi núi này sang núi khác. Trên cao thường xuyên có gió, nhờ sức gió đẩy, sự bay nhảy cũng được dễ dàng.

Khi đã quen bay từ ngọn cây xuống, tôi tập bay từ mặt đất lên. Việc này khó tưởng chừng không làm nổi. Bao nhiêu gió từ phương bắc thổi qua ngàn, bao nhiêu nước từ khe núi chảy ra, mãi đến khi những rừng sồi, rừng thích chuyển màu, mùa thu rụt rè đã đổ vàng trên sườn núi, tôi mới bay được từng quãng ngắn qua thung lũng như chim non tập bay chuyền.

Ngày ấy đang học lớp bảy, tôi thích vào rừng chăn bò, kiếm củi hơn là đến lớp hay ở nhà. Cuộc sống của tôi ở trường không được tốt. Mặc dù tôi học khá, mọi người nói rằng tôi lầm lì, cô độc và có gì đó không bình thường. Đôi khi tôi cũng cãi lại các thầy. Thầy nói vũ trụ là vô tận, tôi cho rằng vũ trụ chỉ là vật chất, mà không gian vật chất nào cũng phải có giới hạn. Thầy bảo quần chúng làm nên lịch sử, tôi tin lịch sử được quyết định bởi các cá nhân. Sự phản kháng âm thầm này khiến các thầy cô thường vui vẻ hỏi han những học trò khác mà lạnh nhạt với tôi, và mỗi khi trong bài kiểm tra tôi đưa ra một ý tưởng gì đó khác với các bạn, bài của tôi thường được cho điểm thấp. Điều đó làm tôi buồn bực suốt một thời gian dài.

Nhưng từ ngày di chuyển được trên không thay vì phải đi bộ bằng chân, tôi không còn bận tâm đến những điều ấy nữa. Trên trời cao lộng gió, sải rộng tay như đôi cánh đại bàng kiêu hãnh, nhìn xuống ngôi trường nhỏ như một hộp diêm nằm ở ven đồi, bên con đường đất hung hung đỏ, tôi thấy mọi thứ đều trở nên bé vụn, tầm thường.

 

***

Tranh Lê Minh Phong

Rồi cũng đến ngày điều bí mật của tôi bị phát hiện. Hôm ấy để tránh một cơn giông lớn đang kéo về đen rầm trên núi, tôi phải bay từ núi về quả đồi trồng bạch đàn sau nhà bởi nếu cuốc bộ thì sẽ gặp mưa dọc đường. Sợ những đám mây xám ngoét sũng nước và những tia chớp xanh, tôi bay rất thấp. Khi tôi bay qua một lũng rậm, con bé Hoa cùng xóm đang hái nấm bên khe nhìn thấy. Con bé vặn vẹo người, tự tát vào mặt mình mấy cái rồi nhảy chồm chồm. Biết mình hoàn toàn tỉnh táo, nó cuống quýt vứt cả giỏ nấm, vừa hớt hải chạy về xóm bằng đôi chân ngắn chủn vừa lắp bắp kêu:

– Bay… biết bay… Con bà Tím biết bay… Ôi trời.

Cái tin tôi biết bay nhanh chóng lan ra khắp xóm. Tối đó mưa xé đất, người trong xóm vẫn đội mưa đến nhà tôi. Họ trách mẹ con tôi giấu họ. Mẹ tôi phân trần rằng không hay biết gì. Khi mọi người về hết, mẹ nhìn chằm chằm vào mặt tôi.

– Mày biết bay thật hả con?

– Con bay được từ mùa hè đến giờ.

– Tao không tin.

Sáng hôm sau, mưa tạnh. Mặt trời mùa thu ném xuống sân những giọt lóng lánh vàng. Mẹ tôi kêu góc buồng đêm qua có chỗ bị dột. Tôi nói:

– Để con lấy cọ lợp lại cho mẹ.

Tôi lên nương chặt vài tầu lá cọ mang về. Rồi đứng trên sân, một tay cắp túm lá, tay kia gạt không khí tạo lực, tôi nhún mình bay lên mái nhà, nhẹ như cú nhảy của một con mèo. Mẹ tôi kinh ngạc đến nỗi một lúc sau mới nói được.

Những ngày sau đó mẹ tôi đi dọc theo các quả đồi, từ xóm trên đến xóm dưới, nhà nào cũng tạt vào. Bà xác nhận việc tôi biết bay là thật. Có người ngửa mặt lên trời cười, nói mẹ con bà này ăn nhiều rau tàu bay nên phát điên, nghĩ mình biết bay thật! Mẹ tôi lại lụi cụi đi từ xóm dưới về xóm trên, theo chiều ngược lại, quả quyết với mọi nhà rằng con bà bay giỏi chẳng kém gì chim. Tôi trách mẹ:

– Mẹ làm thế để làm gì. Con chỉ muốn nhà mình sống yên ổn.

– Con Hoa nó đi kể vung lên, cả xã biết hết rồi, giấu thế nào được hả con.

Ở trường, tôi bị mọi người vây quanh, săm soi như nhìn con vật lạ. Tôi lảng ra bãi cỏ phía sau trường, nơi có những vạt hoa cúc dại nở vàng. Khi ấy vừa sang đầu năm học mới.

Chủ tịch xã đi cùng phó chủ tịch đến nhà tôi. Ông bảo tôi bay thử một vòng cho các ông xem. Tôi nói dối rằng tối qua ngủ bị chuột cắn vào ngón chân, tê lắm, không nhún mình bay được. Phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã thì đi vòng ra sau nhà tôi, nét mặt bí hiểm, ngó nghiêng, chân giẫm lên lá khô lạo xạo. Chủ tịch nói, sau khi mải ngó xem con gà trống lông tía cặm cụi đạp mái ở góc vườn:

– Bay được cũng là điều tốt. Nhưng đừng biểu diễn khoe khoang, làm ảnh hưởng trật tự an ninh trong xã.

Một buổi chiều, có người lạ tìm đến nhà tôi. Ông này người vuông, đầu nhỏ như quả bàng, đi chiếc xe đạp yên cao, ngực đeo máy ảnh Zenit, xưng là nhà báo trên tỉnh về. Vừa hỏi và viết lia lịa vào cuốn sổ nhàu, ông vừa nhìn xoáy vào mặt tôi với vẻ rất nghiêm trọng. Ông bảo tôi sang hàng xóm mượn chiếc cân tạ chuyên dùng để cân lợn về và đánh đu vào đó xem tôi nặng chính xác bao nhiêu cân. Rồi lục tìm trong các túi áo gilê, xoè diêm châm một điếu thuốc Sông Cầu, kết luận:

– Nghìn năm trước trong núi Tây Tạng các đạo sĩ đã bay vù vù như chuồn chuồn. Họ nắm được thuật levitation, tức khinh công. Ở Việt Nam, đây là hiện tượng đầu tiên, số một.

Ít ngày sau, tin về cậu bé biết bay được đăng trên báo tỉnh. Nhiều người tò mò đổ về cái xóm nhỏ bốn mùa yên tĩnh của chúng tôi, xe đạp dựng quanh đầm nước trong xanh ven đồi đất đỏ. Chủ tịch huyện và chủ tịch tỉnh cũng tới. Chủ tịch huyện đi xe Uaz-469, chủ tịch tỉnh đi chiếc Moskvich màu xanh. Chủ tịch huyện da sạm, môi thâm, đi đứng trịnh trọng. Chủ tịch tỉnh hồng hào, phúc hậu, ăn nói xuề xoà. Họ nói tôi là hiện tượng lạ cần được nghiên cứu ở tầm quốc tế, cho mẹ con tôi một túi quà, và tất nhiên bảo tôi bay thử. Tôi lại nói dối rằng mới bị chó đớp vào tay, chưa bay được ngay, các bác cho cháu lui lại vào một dịp khác. Ra về, chủ tịch tỉnh xoa đầu động viên tôi, còn chủ tịch huyện thì căn dặn: “Tài năng cá nhân là hết sức bé nhỏ, sức mạnh tập thể mới là lớn. Nhờ có môi trường giáo dục tốt, có nhà trường và địa phương nâng đỡ, chắp cánh, cháu mới biết bay. Cháu phải khiêm tốn và biết ơn các thầy cô, biết ơn chính quyền xã, biết ơn bà con lối xóm, biết ơn bạn bè”.

Việc tôi được những người đứng đầu tỉnh và huyện đến thăm nhà khiến cả trường xôn xao. Ai cũng nhìn tôi với con mắt vị nể. Ở lớp, có thằng chợt đến rụt rè xin lỗi vì đã bắt nạt tôi ngày trước, có thằng lặng lẽ làm thân bằng việc cho tôi mấy cục phấn màu. Cô giáo chủ nhiệm tươi cười: “Em làm vinh dự cho lớp, cho trường”. Điểm một số môn của tôi vốn còi cọc bỗng nhỉnh dần lên. Trong văn bản báo cáo về tôi với phòng giáo dục huyện, thầy hiệu trưởng phấn khởi viết: “Một học sinh trầm tính, có năng lực. Tiềm năng âm ỉ và phát triển đến độ bay được như ngày hôm nay cũng là nhờ công lao dạy dỗ, vun đắp của nhà trường”.

Từ ngày ấy, nhà tôi thường xuyên có khách. Lắm khi đang bận việc ở đồi nương hoặc ao cá, nghe tiếng người gọi, mẹ tôi lại tất tả chạy về. Khách từ huyện, từ tỉnh, có cả nhà báo ở Hà Nội lên. Mất ngày mất buổi tiếp lại tốn nước trà nhưng nghe các vị khách nói chuyện mẹ tôi cũng thấy vui. Họ nói “thằng cháu nhà chị” đang được cả phe xã hội chủ nghĩa quan tâm, rằng tôi học hết phổ thông sẽ được sang nước bạn học ngành phi công vũ trụ, tôi sắp được hưởng một khoản trợ cấp đặc biệt dù đất nước mình còn đang rất khó khăn, cuộc đời tôi sẽ rải đầy hoa và tương lai tôi sẽ sáng ngời như bóng điện. Họ còn nói Liên Xô đang xây dựng chủ nghĩa xã hội trên mặt trăng, đã thả bèo hoa dâu, trồng rau xà lách trên ấy rồi và “thằng cháu nhà mình” chưa biết chừng sẽ được lên thăm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Mặt Trăng trong một vài năm tới. Mẹ tôi khấp khởi hi vọng. Ông Hạng cuối xóm tối nào cũng xách điếu cày đến nhà tôi. Chính ông này đã từng dùng sợi thừng trạc trâu quất túi bụi lên người tôi như đánh một con vật vì tôi lỡ để cho bò chạy sang nương nhà ông ngoạm gẫy cây măng tre. Giờ thì ông ghé cái miệng hôi khẳn vào sát mặt tôi, rì rầm:

– Quý lắm, quý lắm, người như cháu mày quý lắm. Cục vàng của đất nước, đâu phải chuyện đùa. Cháu sẽ làm được nhiều việc kinh khủng trong đời, nhưng có một việc này bác nhờ mày, trước tiên phải tuyệt đối bí mật, là đập nát cái loa công cộng trên cột điện ở đầu xã ta. Cái loa ấy chỉ lảm nhảm những thông tin vô ích chả ai buồn nghe, điên nhất là tờ mờ sáng nó đã khọt khẹt ầm ĩ làm cả xã tỉnh giấc đến chó mèo cũng không ngủ tiếp được, sáng ra đi làm ai cũng mệt phờ. Nó đánh vào sức khỏe mọi nhà, thật tàn bạo… Mày thương bác, thương làng xóm mình thì nửa đêm bay lên cột điện phá mẹ cái loa chết tiệt ấy đi. Đứa nào thay loa mới vào ta lại bay lên đập tiếp…

 

***

 

Bao kì vọng của mẹ tôi sớm bị dập tắt. Có tin không tốt từ ty giáo dục tỉnh về tôi. Ông trưởng ty là người mới được điều từ nơi khác về, đã nhíu mày ba lần khi nghe báo cáo về “cậu học sinh biết bay ở xóm núi”. Ồng ta nói người mà bay được thì quái dị, lịch sử tiến hoá hùng dũng từ đi khom đến đi thẳng của nhân loại chưa hề có chuyện này. “Một hiện tượng không có sự phát triển nhân cách bình thường, tiềm ẩn những nguy hiểm khó lường cho xã hội, cần hết sức thận trọng, cảnh giác” – ông trưởng ty kết luận trong một cuộc họp. Tin đưa về, ngôi trường của tôi xao xác như khu rừng ủ bão. Vào lớp, không đứa nào muốn ngồi cạnh tôi. Chúng thì thầm với nhau rằng tôi sẽ không được kết nạp vào Đoàn, học hết cấp ba cũng không được phép thi vào trường nào cả. Các thầy cô lạnh nhạt với tôi như trước, điểm kiểm tra các môn của tôi lại tụt xuống dần. Thầy dạy sinh vật nói oang oang tại phòng hội đồng: “Cụ trưởng ty thật sáng suốt. Người bay như dơi là không thể chấp nhận được, nó phá vỡ toàn bộ kiến thức sinh học ta đang dạy trong sách giáo khoa”. Thầy dạy vật lí mỉa mai: “Con người sinh ra là để đi bằng chân. Nếu thắng được trọng lực của hành tinh thì khác gì đái vào định luật vạn vật hấp dẫn”. Thầy hiệu trưởng gọi tôi lên phòng, có cô giáo chủ nhiệm lớp tôi ngồi cạnh. Thầy nói: “Hiện chưa có chỉ thị cụ thể của trên về trường hợp của em, nhưng em phải sống thật bình thường như mọi người và không được bay ở bất cứ nơi nào cả”. Cô giáo chủ nhiệm nhìn tôi như người xa lạ, không nói câu gì.

Mẹ tôi lặng lẽ khóc, người héo hon như quả đỗ đũa phơi nắng. Thời ấy thanh niên ngu dốt là bình thường, nhưng không được vào Đoàn thì là thứ người vứt đi trong xã hội. Tôi chỉ thương mẹ. Vào Đoàn hay đại học, tôi chả cần.

– Đi tìm gặp bác chủ tịch tỉnh đi con. Bác ấy là to nhất, lại đã đến nhà mình, nhất định bác ấy sẽ bênh vực con.

Mẹ tôi nói như van nài. Thương mẹ, tôi đánh liều tìm đường lên tỉnh. Trung tâm tỉnh ở xa, qua mấy rặng núi, tôi chưa đến bao giờ. Không dám bay, tôi đạp xe đạp. Đến nơi, dừng chiếc xe bê bết bùn đất trước cổng toà nhà lớn lặng ngắt, tôi hỏi bác Quảng chủ tịch tỉnh, người gác cổng dài miệng ngáp: “Ông ấy mới về hưu rồi”.

Mẹ tôi ốm vì buồn.

Giữa lúc lòng tôi đang ủ những đám mây u ám nặng nề thì một làn gió sáng thổi đến bất ngờ: cô Hà xuất hiện.

Đó là một cô giáo mới, về trường sau lễ khai giảng một tháng, được phân công dạy môn sử ở lớp tôi. Cô trẻ lắm, mới ngoài hai mươi, nghe nói vừa tốt nghiệp đại học, không hiểu vì lí do gì lại về dạy cấp hai ở cái trường xóm núi này. Ngày đó người có bằng đại học như cô là hiếm lắm. Buổi đầu tiên cô vào lớp dạy, gần sáu chục học trò nam và nữ, tất cả lặng người đi. Từ nhỏ đến lớn, chỉ quen ăn đói mặc rách, chúng tôi chưa nhìn thấy một người con gái nào xinh như thế bao giờ.

Gương mặt cô tròn tròn và luôn nở nụ cười đẹp mê hồn. Dường như lúc nào cũng có ánh trăng toả ra từ gương mặt và nụ cười tươi sáng ấy. Cô mặc áo trắng bó sát thân hình mềm mại như kiểu áo cóm của phụ nữ Thái, một màu trắng tươi, trắng trong tinh khiết như cũng đẫm ánh trăng. Gần gũi mà sang quý, gợi cảm và xa xôi, đó là một cái gì mâu thuẫn rất khó lí giải ở cô mà chắc hẳn không một người con gái nào trên đời có được. Cô giảng bài cũng tài hoa, cuốn hút, nhưng buổi học đầu mải ngắm cô, cả lớp tôi ngơ ngẩn chẳng ghi được chữ gì.

Từ sau buổi đó, cô trở thành chủ đề bàn luận vô tận của lớp. Bọn con gái làm thơ tả cô, rồi khóc vì nhận ra những con chữ thô kệch của mình chỉ làm méo mó đi cái nhan sắc ấy. Đám con trai thở dài, tóc dựng ngược lên phờ phạc. Tình yêu của chúng tôi dành cho cô, đau khổ và hoang dại, như những bông hoa xanh trên núi nở trái mùa.

Một hôm có tiết học sử, trước khi vào lớp cô vẫy tôi lại, bảo tôi gặp cô sau khi tan học. Không biết có việc gì, tôi hồi hộp vô cùng. Khi cả trường về hết, cô đợi tôi bên cửa lớp, mắt long lanh và nhoẻn nụ cười đẹp mê hồn. Cô hỏi tôi rằng có phải điều mọi người nói về tôi là sự thật.

Tôi thưa vâng ạ. Cô nhìn tôi chăm chú và mỉm cười. Tôi ngây ngất trong màu trắng sáng từ áo cô toả ra.

Cô nói cô đã tìm đọc trong các sách và biết hiện tượng người bay trên thế giới là có thật. Thế kỉ mười bảy, tu sĩ Joseph Desa ở làng Cupertino miền Nam nước Ý đã bay lên khỏi mặt đất hàng trăm lần trước sự chứng kiến của nhiều người, trong đó có cả Đức Giáo hoàng. Kì diệu nhất là ông đã từng cắp một cây thánh giá lớn bay vụt lên một quả đồi thay vì phải mất nhiều người khiêng. Ông qua đời năm 1663 và được phong thánh.

– Giá như cô được nhìn thấy em bay nhỉ… Dù một lần thôi! Cô rất tò mò, thật đấy.

Tôi thưa với cô rằng tôi sẽ rất vui nếu được làm điều đó, nhưng mong cô hiểu cho tình cảnh của tôi lúc này.

– Cô biết việc bay của em hiện giờ không được phép. Tất cả những gì mà do trình độ nhận thức chưa hiểu được, chưa kiểm soát được thì cách làm dễ nhất là cấm, xã hội loài người xưa nay vẫn vậy. Nhưng cô vẫn muốn bằng cách nào đó được thấy em bay.

Tôi đánh bạo nói rằng, nếu cô không ngại, tôi sẽ dẫn cô vào núi, đến một nơi thật hoang vắng.

Chẳng ngờ cô đồng ý ngay, có phần háo hức. Cô quyết định đi luôn vào sáng chủ nhật tuần ấy. Tôi ra về, như tỉnh như say, tâm hồn vang ngân tiếng nhạc của Daniel Boone, một ca khúc thịnh hành thời ấy với cái tên Chủ nhật tươi hồng.

 

***

 

Sáng chủ nhật, tôi đến đón cô trước khu nhà tập thể nơi cô ở. Qua dãy đồi trồng bồ đề phía sau trường học, hai cô trò đi dọc theo một con suối rất dài và bắt đầu vào núi. Sau những vạt núi trồng lúa nương hiu hắt là đến rừng già. Cô Hà mặc áo trắng ôm khít thân mình, có thêm đường nẹp màu hồng dọc theo hàng cúc, đội chiếc mũ vải trắng rộng vành thắt nơ. Vẫn nụ cười đẹp mê hồn trên môi, cô nhanh nhẹn lách mình qua những tảng đá lớn. Giữa rừng hoang, chiếc mũ xinh xắn của cô phất phơ như một con bướm trắng khổng lồ.

Chẳng mấy chốc, hai cô trò đã lạc trong xứ sở ngọt ngào của thích, của sồi. Màu vàng ngời ngợi của nắng thu lẫn trong màu vàng óng ả của lá sồi, không còn phân biệt nổi. Lên cao, màu lam sơn thẳm xanh nhoè trong màu thanh thiên tươi thắm của trời, cũng không còn nhận ra đâu là mây đâu là núi. Thiên nhiên đẹp đến tột cùng của nó, trong một ngày cuối thu đầu đông.

Qua rừng già, lại leo dốc để lên núi tranh. Đây đó những thân cây cụt cháy đen sì từ mùa đốt nương năm trước vạch những dấu chấm than khắc nghiệt lên nền trời. Khi ra giữa vùng cỏ tranh trải một màu vàng xanh hút tầm mắt, cô giáo của tôi đứng im lặng, nét mặt thoáng ưu tư. Tôi hỏi quê cô ở đâu mà cô leo núi giỏi vậy. Cô đáp:

– Quê cô ở Sơn La, cũng có những núi cỏ tranh bát ngát thế này. Em thấy không, những đồi tranh ở miền núi luôn gợi cảm giác hiu quạnh và se sắt buồn…

Hai cô trò lại đi. Dưới trời xanh mênh mông, trên cỏ tranh ngút ngát vô tận. Gió thổi lộng như muốn xé người, cô phải đưa tay giữ chiếc mũ trắng trên đầu kẻo bay mất. Đi bên cô, tôi đón nhận mùi hương thơm ngát trinh nguyên mà sức gió hung hãn kia không đủ làm nhạt hết. Tôi chợt nhận ra đây là giờ phút tươi đẹp nhất, vĩnh viễn không bao giờ trở lại, trong cuộc đời mình.

Đi hết thảo nguyên tranh, lại leo dốc và đến cửa rừng. Trời đã ngả sang chiều, chúng tôi đã ở nơi cao lắm. Tiếng chim từ trên núi vọng xuống, khắc khoải như nhả từng giọt buồn. Cô Hà chợt đứng lại, lắng nghe.

– Có tiếng suối ở đâu đây, em ạ.

– Không phải suối đâu, thác đó. Cô nhìn kìa.

Tôi vạch cây chỉ cho cô xem. Từ trên đỉnh núi thẳm, một con thác khổng lồ cuồn cuộn phun bạc xuống vực sâu. Nước từ đó đổ ra ven thung lũng dưới chân chúng tôi thành dòng sông trắng xoá.

– Hùng vĩ quá. – Cô đưa tay lên vành mũ ngăn nắng chói chang từ phía tây rọi xuống, reo khẽ. – Mình lên tận đỉnh ngắm thác đi em.

Tôi thưa rằng đã đi rất xa, đến lúc phải quay về, nếu lên đến đó thì sẽ không kịp về tới nhà trước khi đêm xuống. Nhưng dường như thời gian không phải là điều làm cho một cô gái còn quá trẻ như cô bận tâm. Thấy cô háo hức lên tới đỉnh, cũng là ngọn núi cao nhất vùng, tôi nhanh chóng chiều theo ý cô. Làm cô vui thích là hạnh phúc lớn nhất của tôi lúc này.

Lên đến sườn núi cao ngang tầm ngọn thác, cô Hà thích mê đi. Mặt trời đỏ thắm như tảng máu đọng giữa hẻm núi xa đằng tây, bên ấy một vùng còn nguy nga rực nắng như dát vàng nhưng trên thác bên này đã tắt nắng, không khí nhuốm hơi nước giá lạnh và đôi dải sương mù màu lam tím tụ thành mây lãng đãng bay qua. Thác như dòng sông tiên ngùn ngụt từ trời tuôn xuống, xuyên qua mây dội vào ghềnh đá đen ngòm phía dưới, làm tung lên muôn khối bạc trắng tinh. Trên dốc núi bên trái ngọn thác, một cây sồi khổng lồ đứng cô độc vươn cành. Mỗi trận gió nổi lên, cây ào ạt chuyển rung, nhiều chiếc lá lấp lánh bị gió cuốn đi, vùn vụt bay rất xa và biến mất vào vực trời xanh biếc.

– Mình đã đến cõi tiên rồi đó. – Cô nói như thì thầm. – Không thể có ai nhìn thấy chúng ta ở đây cả. Và bây giờ là lúc cô muốn được biết điều bí mật của em…

Nhìn xuống vực sâu dưới chân thác, một ý nghĩ chợt loé trong đầu, tôi hỏi cô đột ngột:

– Cô có muốn bay cùng em không?

Cô nhìn tôi không hiểu. Tôi dẫn cô chạy lên dốc núi.

Cây sồi ở đó có lẽ đã vài trăm năm.

Tôi nhún mình bay lên cành sồi lớn gần gốc trong cái nhìn đầy thán phục của cô, rồi cúi xuống chìa tay kéo cô lên. Một cảm giác lạ lùng từ bàn tay ấm và mềm truyền sang làm tôi bủn rủn. Đó là lần đầu tiên tôi được nắm tay một người khác giới trong đời.

Tôi giúp cô leo lên từng cành sồi xù xì nứt nẻ. Lóng ngóng và chật vật, vừa leo vừa cười khúc khích, cuối cùng cô cũng lên đến được ngọn cây. Tôi ngắt một lá sồi, đánh bạo cài lên mũ cô, còn cô hái một quả sồi nâu tặng tôi, tinh nghịch thả rơi vào túi áo. Từng trận cuồng phong lồng lộn thổi qua, ngọn sồi ngả nghiêng, các tầng lá rít lên, đồng loạt phơi mặt trái lá màu gỉ sắt. Đứng trong mây, trong gió, trong ráng chiều phía tây rực ánh vàng kim khí, tôi ngước nhìn cô và thảng thốt. Cô đẹp như một thiên thần.

– Em sẽ cõng cô bay. Phải bay từ đây, vì nếu bay từ mặt đất em sẽ không đủ sức cất mình lên được.

Ý tưởng mạo hiểm ấy làm cô thực sự bất ngờ.

– Làm như vậy em có bay được không?

Tôi quả quyết là được để cô yên lòng. Cô nhìn xuống triền dốc phủ lá sồi vàng, ánh mắt đầy lo lắng. Thuyết phục mãi, cô mới đặt tay lên vai tôi, bối rối và thoáng đỏ mặt. Khi tay cô đã bám chặt trước ngực tôi cùng một mùi hương tinh khiết dâng tràn và cảm giác êm ái tột cùng, niềm rung động tận đáy tâm hồn làm tôi muốn ngất đi. Trấn tĩnh lại, dang rộng hai tay, vừa lúc gió thổi qua, tôi rời ngọn sồi, bay xuống.

Mặc dù người cô khá nhỏ nhắn nhưng sức nặng đè trên lưng làm tôi loạng choạng. Tôi cố giữ thăng bằng và bắt đầu bay qua thác.

Thác trắng xoá ở dưới chúng tôi vài chục mét. Núi trùng điệp màu tím biếc và xanh lam tứ bề đang thẫm dần càng làm nổi bật màu trắng hoang dã của thác. “Đẹp quá em ơi, kì diệu quá!”. Cô reo lên vui sướng, giọng trong vắt như sương núi tan vào thinh không.

Tiếng reo ấy làm tôi phấn khích. Tôi cao hứng chao mình như cánh chim lúc lượn vòng. Hành động dại dột này làm mất thăng bằng khiến cả hai người nghiêng hẳn sang một bên và rơi thẳng xuống thác.

Trong chớp mắt, toàn thân tôi đập mạnh vào đá và nước lạnh trùm lên kín đầu. Nước cuốn phăng tôi đi một quãng thì gặp gờ đá và bị cản lại. Ngoi đầu lên khỏi nước, tôi nhìn thấy cô Hà đang trôi rất nhanh về phía trái chân thác. Dưới đó là vực sâu.

Trong phút kinh hoàng, tôi không biết phải làm gì. Cái vực đá đen ngòm sẽ nuốt cô như nuốt một chiếc lá. Nỗi đau đớn làm tôi chết ngất trong vài giây.

Trôi đến cách bờ dốc đứng phía trên miệng vực vài mét, bóng áo trắng của cô mắc lại gần một tảng đá lớn nhô trên mặt thác. Hi vọng tràn trề, tôi vừa quờ quạng tìm gờ đá dưới nước để bám vừa tụt xuôi theo dòng thác về phía cô. Nhưng chẳng bao lâu, tôi đạp vào mảng đá đầy rêu trơn nhẫy và trôi tuột đi cho tới lúc đâm sầm vào một vật gì đó gồ ghề. Người tôi nảy lên, tay sượt qua một gờ đá nhọn và bám vội vào đó. Cái vật gồ ghề vừa cản tôi lại đã trôi đi mất, có lẽ là một khúc cây lăn từ núi xuống. Tôi gồng mình giữ chặt gờ đá trong tay và rờ tìm xung quanh nhưng không thấy có gì để bám nữa. Gờ đá mỏng lại ở thế dốc nhanh chóng làm tôi kiệt sức và tê dại đến mức muốn buông rời. Nước vẫn ầm ầm đổ từ trên xuống và xối vào mặt tôi.

Không nhớ bao lâu sau đó, một bàn tay mềm sờ vào tay tôi trong nước và kéo tôi lên, cùng tiếng kêu chìm trong tiếng nước chảy xiết. Cô Hà!

Tôi cố nhích dần theo cô, bụng cào trên đá. Vật lộn trong nước, khó khăn lắm cô mới kéo tôi đến được chân tảng đá lớn cách đó chỉ chừng hai mét. Quay lại nhìn, tôi rùng mình: vị trí gờ đá tôi vừa bám ở ngay phía trên miệng vực. Cô Hà đã cứu mạng tôi!

Hai cô trò ngồi trên ghềnh đá giữa thác nước gào thét. Bóng tối lan dần, giữa chốn hoang sơ chỉ còn màu trắng ghê rợn của thác. Áo trắng cô sũng nước, dán chặt vào người làm nổi lên vầng ngực yêu kiều. Một vệt máu hoen ở khoé miệng, môi cô tím lại, khắp người xây xát và run lên vì lạnh. Nhìn cô vẫn xinh đẹp vô cùng.

Từ tảng đá chúng tôi ngồi đến chân thác gần như dốc đứng. Thung lũng bên dưới đã chìm vào bóng tối. Một vành trăng lưỡi liềm xanh phớt ló ra qua ngọn cây tùng nhọn hoắt trên rặng núi xa. Tôi đứng trên mỏm đá cao, xốc cô giáo trẻ lên lưng, dùng hết sức tàn, bay xuống.

 

***

 

Việc cô giáo Hà đột nhiên mất tích hai ngày, khi trở về trường “thất thểu như con ma dại” khiến các giáo viên thì thầm bàn tán. “Con bé tiểu tư sản này sống hồn nhiên bản năng lắm. Chắc yêu phải thằng đểu nào và bị nó gạt rồi” – người ta phỏng đoán vậy. Ở trường, người mến cô nhiều hơn là người ghét. Và chuyện cũng qua đi…

Ít ngày sau thầy hiệu trưởng gọi tôi lên. Thầy nói trường hợp của tôi, ở trên đã có công văn giao cho địa phương giải quyết. Tôi sẽ phải bay cho mọi người chứng kiến, xã cùng nhà trường sẽ xác nhận và báo cáo lên huyện, lên tỉnh về việc này. Theo thầy thì phải làm ngay. Một vị lãnh đạo huyện nói: “Cứ đồn thổi ầm ĩ mãi nhưng rốt cuộc thằng nhóc ấy có bay được thật hay không thì chả ai nhìn thấy, lần này phải làm cho rõ ràng”.

Địa điểm bay được ấn định: trên bãi cỏ rộng ở chân đồi bồ đề phía sau trường. Thời gian là vào sáng chủ nhật.

Mấy ngày trước đó, tôi bỗng cảm thấy bồn chồn. Có lẽ vì cuộc bay sát hạch này được coi là một cái gì quá nghiêm trọng. Ban giám hiệu cùng lãnh đạo xã gọi tôi lên căn dặn. Chúng bạn rì rầm bàn luận, thầy cô ngọt nhạt hỏi han. Tối thứ bảy, dân xóm rầm rập kéo đến nhà tôi. Họ cười nói vỡ nhà, chúc tôi tinh như cú, lẹ như dơi, ngày mai bay vù vù cho thiên hạ lác mắt.

Tôi lỉnh ra sau nhà, chạy lên đồi.

Trăng hằn một vệt đỏ quạch như con mắt kinh dị ở ven trời. Gió xao xác lùa trên mấy khóm bạch đàn thưa thớt. Tôi ôn lại các kĩ năng cơ bản và bay từng quãng ngắn. Cú ngã trên thác để lại vài vết xước, khiến tôi vẫn còn đau.

Mẹ cạo thuốc tetracyclin rắc vào vết thương chưa khép miệng ở chân tôi và cằn nhằn vì khách ngồi quá khuya. Suốt mấy ngày ấy mẹ lo cho cuộc bay của tôi và muốn tôi được nghỉ ngơi giữ sức. Không hiểu vì điều gì, lòng phảng phất một nỗi sợ mơ hồ, cả đêm tôi không ngủ được. Mẹ cũng liên tục trở mình.

Hôm sau mẹ dậy sớm mổ gà nấu cháo cho tôi ăn.

Buổi sáng đầu mùa đông, trời rưng rưng lạnh.

Tám giờ, trên bãi rộng sau trường đã rất đông người. Ba bàn dành cho các lãnh đạo và cấp trên đến dự. Một bàn cho hai thư kí ghi biên bản. Các thầy cô giáo đứng ở phía sau. Dân xã và học sinh thì tụ tập quanh bãi và ven đồi bồ đề. Tôi để mắt tìm trong đám đông, không thấy cô Hà đâu cả.

Chín giờ, ông trưởng phòng giáo dục huyện mới tới. Một ông trưởng ty nào đó trên tỉnh đến bằng xe Gaz-69 lầm bụi, ngày ấy thường gọi là com-măng-ca. Phóng viên từ báo tỉnh và đài phát thanh huyện cũng về. Chủ tịch xã phát biểu mấy câu, thầy hiệu trưởng bảo tôi bước ra giữa bãi.

Gần một nghìn con mắt đổ dồn vào tôi. Tôi nhìn ra dải đồi bồ đề nhàn nhạt xanh, tay gạt không khí ba bốn lần vẫn không cất mình lên được.

Tôi hoang mang nhìn xuống chân mình, không hiểu điều gì đã xảy ra. Kể từ ngày biết bay, chưa bao giờ tôi lâm vào tình trạng này.

Tôi xin chạy một quãng lấy đà, giống chiếc máy bay khi rời khỏi đường băng trong một phim chiếu bóng tôi đã xem. Vẫn chẳng ăn thua gì. Dường như những ánh nhìn nặng nề đã níu chân tôi lại.

Đám đông bắt đầu ồn ào. Những cái nhìn như đúc bằng chì tiếp tục đè nặng lên tôi, tưởng chừng có thể dìm tôi lún sâu vào đất.

Tôi lặng lẽ bước lên đồi trong sự ngạc nhiên của mọi người. Với một hi vọng cuối cùng, tôi trèo lên cây bồ đề mọc trên lũy đất ven bãi. Đứng ở chạc cây chìa ra phía bãi, tôi đạp cành lao xuống. Gỗ bồ đề giòn, cái cành gẫy rắc. Tôi ngã sượt qua lũy đất và đập ngực lên bãi cỏ, mặt mũi tối lại vì đau.

Tiếng la ó, tiếng cười nói nổi lên hỗn loạn.

– Không biết bay.

– Không bay được.

– Há há… Đếch bay được.

– Quân lừa lọc.

– Tất cả bị mẹ con nhà nó lừa.

Không ai chạy đến đỡ tôi dậy. Một cục đất từ đâu ném tới rơi cạnh chân tôi.

Tôi sẽ còn nằm đó trong nỗi đau đớn ê chề nếu không có một bóng con gái đội mũ lưỡi trai chạy tới. Bạn này học trên tôi một lớp, tên là Phượng. Phượng da trắng, mông bạnh, ngực nở, từng nổi tiếng vì việc núp ở bãi ngô một mình rình đánh thầy giáo. Phượng đỡ tôi dậy, hỏi “Cậu có đau lắm không?” rồi phủi bụi đất trên áo, trên quần tôi. “Không việc gì phải buồn cả. Cậu vẫn là người anh hùng”. Nói rồi Phượng quay nhìn đám con trai lớp tôi đang ngồi lố nhố ven bãi, vênh mặt quát:

– Thấy bạn ngã mà chúng mày ngồi giương mắt cóc thế à? Một lũ hèn!

Trong lúc Phượng đỡ tôi dậy, một bóng người áo trắng từ đám đông bên kia băng qua bãi về phía tôi. Tôi nhìn ra, tim đập loạn như chim trúng đạn. Cô Hà!

Cô đến, cảm ơn Phượng và không nói câu nào, chỉ chăm chú nắn chân tay và người tôi xem có gẫy giập chỗ nào không, rồi cô dìu tôi về bên kia bãi. Tôi xấu hổ nói:

– Em tự đi được cô ạ.

Cô im lặng và không buông tôi ra. Tôi bước dệnh dạng bên cô như một thằng nhóc ngu ngốc. Đi qua dãy bàn các quan khách, cô ngẩng cao đầu, môi mím chặt. Chưa bao giờ cô giáo xinh đẹp của tôi lặng lẽ và nghiêm trang như vậy. Áo cô hôm ấy trắng vô ngần.

 

***

 

Tôi đến trường trong tâm trạng nặng nề. Bước vào lớp, thấy trên bảng một chữ NHỤC to tướng viết bằng phấn xanh, bên cạnh vẽ cái cây khẳng khiu và một hình người như cái que đang rớt từ ngọn cây xuống. Thầy giáo dạy tiết một vào lớp, nhìn thấy hình vẽ, dửng dưng không nói gì. Tất cả đồng loạt tẩy chay tôi ra mặt. Gặp tôi, cô giáo chủ nhiệm lạnh lùng bảo: tôi có thể bị đuổi học, ít nhất là hạ hạnh kiểm và vĩnh viễn không được vào Đoàn.

Mẹ khép cửa cả ngày, không bước ra đường. Tôi đi vào núi, nằm giữa thung lũng hoa dại ngửa mặt nhìn trời xanh. Tôi là kẻ xảo trá, bịa tạc, tất cả đã rõ ràng. Không ai bênh vực tôi được nữa.

Tôi áp mặt vào hoa dại. Ngàn hoa lấm tấm trắng run run trong gió lạnh đầu đông. Cũng trên tấm thảm hoa này, hai cô trò đã ngủ lại. Vì đường xa, đêm tối, đau đớn và kiệt sức. Tôi ở bên cạnh cô suốt đêm, nhìn cô ngủ dưới ánh trăng trong sạch, như một đêm kì diệu nhất trong cuộc đời mình.

Đêm ấy, cô đã kể tôi nghe những chuyện về cây sồi. Chuyện giấc mơ cây sồi già của Andersen, chuyện người con gái thủy chung buộc những sợi ruy-băng vàng lên cây sồi làm tín hiệu tha thứ cho người yêu khi anh ta ra khỏi nhà ngục… Chiếc mũ trắng cài lá sồi của cô bị thác cuốn trôi mất, nhưng quả sồi cô hái tặng, thật lạ, vẫn còn trong túi áo tôi. Cô bảo:

– Người phương Tây có câu tục ngữ “Cây sồi vĩ đại bắt đầu từ hạt giống tí hon”. Quả sồi này em đem ươm, có thể mọc lên một cây sồi bát ngát. Là người có thiên tư, em hãy học hỏi và nỗ lực hết mình để sau này làm nên những việc lớn, dù hôm nay em chỉ là một học trò nhỏ, như một hạt sồi…

Từ ngày đi học, chưa ai nói với tôi như thế bao giờ. Lời nói ấy đã làm thay đổi cả cuộc đời tôi, và phủ bóng lên tôi xanh ngắt trong những giấc mơ về một cây sồi vĩ đại, hùng cường.

Trong những ngày tủi nhục của tôi ở trường, cô im lặng. Cuộc đi vào núi sẽ vĩnh viễn là một bí mật. Tình thế buộc cô phải như vậy, tôi không bao giờ trách cô. Nhưng nhiều năm sau, khi đã trở thành một nhà khoa học, tình cờ được nghe một người trong ngành giáo dục kể lại, tôi thực sự bất ngờ.

Mùa đông giá lạnh năm ấy, cô đã đến phòng giáo dục huyện để khẳng định việc tôi biết bay là sự thật. Cô nói tôi là một học sinh trung thực và không thể bị kỉ luật hay chịu bất cứ một sự kì thị nào.

– Không ai tin vào tờ giấy này. – Trưởng phòng giáo dục trả lời. – Cô chỉ là một giáo viên bình thường, một mình cô không chứng minh được cho ai cả.

– Tôi chứng minh bằng danh dự của mình.

– Danh dự? Tôi còn chưa hỏi đến việc một cô giáo trẻ đi qua đêm với một thằng học trò trong núi để làm gì và cái tội vắng mặt ở trường không lí do vào thứ hai đầu tuần, nếu những điều cô kể ra đây là thật. Thằng nhóc ấy là cái gì mà cô đứng ra bảo vệ nó? Cô có muốn mất hết danh dự trong ngành không?

Trưởng phòng nhìn như móc vào ngực cô qua làn áo trắng.

Khi cô uất ức ra khỏi cửa, ngài trưởng phòng nhìn tờ giấy trên bàn, không hiểu sao lại đưa lên mũi hít ngửi rồi bật cười. Trên giấy là những dòng rất đẹp viết bằng mực tím, trong đó có những chữ: … Tiềm năng con người như ngọn lửa mong manh trước gió, không ai biết sẽ cháy hoặc tắt lúc nào. Càng mong manh càng cần được trân trọng. Em ấy còn nhỏ mà đã phải chịu quá nhiều định kiến và áp lực. Chính áp lực này, từ nhiều phía, đã làm thui chột và giết chết tiềm năng…

 

***

 

Mùa hè năm sau tôi theo mẹ về một miền quê xa, khi trở về nhà sau mấy tháng nghỉ hè tôi biết tin cô Hà không còn ở trường nữa. Có người nói cô đã xin chuyển đi trường khác cũng ở một tỉnh miền núi, có người lại nói cô làm mất lòng một vị có quyền chức nên bị đẩy đi. Từ đó tôi không biết tin gì về cô nữa.

Tôi vẫn thường gặp lại cô trong những giấc mơ, tại một miền quê tôi chưa từng đặt chân tới. Nơi đó có những đồi cỏ tranh rộng, hoang vắng và mênh mang buồn.

Tôi cũng không bao giờ còn bay được trong đời. Khả năng lạ chỉ đến một lần rồi mất hẳn. Những đồn thổi về người biết bay ở vùng núi phía bắc trước thập niên cuối của thế kỉ không được tờ báo nào nhắc đến nữa và nhanh chóng bị phủ bụi trong kí ức của người đời. Sự việc nào không được báo chí đưa tin, nghĩa là nó không có thật.

Tôi đi vào núi, một mình. Cô ạ, mùa thu lại đến rồi, những rừng sồi, rừng thích lại đổ vàng, khắp trong núi toả hơi thu dịu buồn da diết. Lau lách trổ hoa trên triền vắng, gió bời bời đi qua đỉnh thác mờ sương. Trái sồi cô tặng năm xưa không nảy mầm được nữa, nhưng trên thảm lá rực vàng nơi dốc núi, bầy sóc đang mải mê tìm không hết những quả rụng. Trong nhiều năm tới, từ những trái sồi tí hon ấy, sẽ mọc lên bát ngát một rừng sồi.

 

                                                                                                    Hà Nội, 10-2014                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        P.D.N

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here