Tạp văn của Nguyên Lạc

0
477

 

                         Thơ hay ttuyt

 

Ôn cố nhi tri tân! (Xem lại cái cũ, biết cái mới – Nhắc lại cái cũ để hiểu biết hơn cái mới)

 

Lời nói đầu: Đây là lời vàng tiếng ngọc của ông sư phụ tôi, LeVinhHuy, tôi chỉ có công “tập đại thành”, làm lại cho đơn giản và dễ dàng cho các bạn thưởng lãm. Nếu hay thì khen tui, còn dở thì chưởi ổng!. Nghe đâu ổng VN,đang “Din Bích” thâm cc nào đó. Tui với ông “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” à nhe!

 

                             Sơ lược về Thơ Đường luật.

Thi pháp của Tàu và âm luật của ta.- Như trên đã nói, thơ nôm ta làm theo phép tắc thơ Tàu, mà âm thanh tiếng ta cũng tương tự tiếng Tàu (cũng là thứ tiếng đan âm và cũng chia làm tiếng bằng tiếng trắc), nên thi pháp của ta tức là thi pháp của Tàu và các niêm luật của thơ ta cũng phỏng theo thơ Tàu cả .

Thơ ngũ ngôn và thơ thất ngôn: Thơ là thể văn, có thanh, có vần, có thể ngâm vịnh được.

Theo số chữ trong câu, thơ cổ có hai lối chính:

1) Ngũ ngôn, mỗi câu năm chữ;

2) Thất ngôn, mỗi cây 7 chữ;

Thơ cổ phong và thơ Đường luật: Theo cách làm, thơ chia làm hai thể;

1) Cổ phong là thể thơ có trước đời nhà Đường, không theo niêm luật nhất định.

2) Đường luật hoặc cận thể là thể thơ đặt ra từ đời nhà Đường (618-907) phải

theo niêm luật nhất định.

Thơ Tứ tuyệt và thơ bát cú.- Theo số câu, thơ Đường luật chia làm hai lối:

1) tứ tuyệt, mỗi bài bốn câu.

2) Bát cú, mỗi bài tám câu.

 

                         Sơ lược về thơ Tứ Tuyệt

 

Thế nào là ttuyt?

Đnh nghĩa. Tứ là bốn, Tuyệt là dứt, ngắt.

Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì thể thơ này ngắt bài Đường luật tám câu ra, lấy bốn câu thôi

Các cách làm thơ ttuyt. Vì một bài thơ tám câu có thể ngắt nhiều cách, nên cũng có nhiều cách làm thơ tứ tuyệt:
1/ Ngắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau.

Thí dụ:
Con voi (Lê Thánh Tôn ?)
(so sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở dưới)
Xông pha bốn cõi bể chông gai,
Vùng vẫy mười phương bụi cát bay.
Phép nước gọi là tơ chỉ buộc, (3)
Sức này nào quản búa rìu tay.(4)
( 3) và (4) đối nhau.
2/ Ngắt 4 câu giữa, thành ra bài thơ 2 vần, cả bốn câu đối nhau

Thí dụ:
Khóm gng ti (Ôn Như Hầu)
(so sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở dưới)
Lởm chởm vài hàng tỏi (1)
Lơ thơ mấy khóm gừng (2)
Vẻ chi là cảnh mọn, (3)
Mà cũng đến tang thương (4)
(1) và (2) đối nhau, (3) và (4) đối nhau .
3/ Ngắt 4 câu dưới, thành ra bài thơ hai vần, hai câu trên đối nhau, hai câu dưới không đối.

Thí dụ:
Đchùa Vô vi (Vô danh)
(so sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng ở dưới)
Vắt vẻo sườn non Trạo (1)
Lơ thơ mấy ngọn chùa. (2)
Hỏi ai là chủ đó?
Có bán tớ xin mua
(1) và (2) đối nhau.
4/ Ngắt 2 câu đầu và 2 câu cuối, thành ra bài thơ 3 vần, cả 4 câu không đối.

Thí dụ:
Cái pháo (Nguyễn Hữu Chỉnh)
(so sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở dưới)
Xác không, vốn những cậy tay người,
Bao nả công trình, tạch cái thôi!
Kêu lắm, lại càng tan tác lắm.
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.
5/ Ngắt hai câu 1-2 với hai câu 5-6 , thàn hra bài thơ 3 vần hai câu cuối đối nhau.

Thí dụ:
Con cóc (Lê Thánh Tôn)
(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật trắc, vần bằng ở dưới )
Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi,
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Tép miệng năm ba con kiến gió (3)
Nghiến răng chuyện động bốn phương trời (4)
(3) và (4) đối nhau.

Nếu câu thơ trong bài chỉ có năm chữ,  ta gọi đó là bài ngũ ngôn ttuyt; bảy chữ

ta gọi  tht ngôn ttuyt, sáu và tám chữ ta gọi lục bát tứ tuyệt.v.v..

Làm thế nào viết được mt bài ttuyt?

Để bàn về việc này, tôi xin giới thiệu thiền sư Muju, đến từ Nhật Bản, sẽ hướng dẫn

và minh họa hầu các bạn:

Người ta hi mt thi sĩ Nht ni danh rng làm thế nào viết được mt bài thơ ttuyt ca Trung Hoa. Thi sĩ ging gii:

Câu đu cha phn khi nhp; câu hai là phn chuyn tiếp ca câu đu; câu ba chuyn từ đề mc và bt đu mt ý mi; và câu bn gm ba câu trước hp li vi nhau. Mt khúc dân ca Nht minh ha ý này:

“Hai cô con gái ca mt người bán la Kyoto,

Cô chhai mươi, cô em mười tám.

Mt anh lính có thgiết người vi lưỡi kiếm ca anh ta,

Nhưng hai cô gái này giết đàn ông vi đôi mt ca các nàng.” (*)

 

Cách làm thơ Tứ Tuyệt hay

Thầy Muju đáng kính đã có một minh họa tuyệt vời cho thể thơ tứ tuyệt, nhưng đó chỉ mới là thể thơ, tức là mới chỉ có hình thức mà thôi! Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp làm thế nào để làm được một bài thơ tứ tuyệt cho hay.

Trước hết, ta cần định nghĩa thế nào là thơ hay !

Thơ hay là thơ đọc qua là thuộc, nghe lòng mình thổn thức và nhớ rất lâu! Như người nữ đẹp (giai nhân), gặp qua một lần là suốt đời không quên!

Đọc một bài tứ tuyệt, muốn biết nó đáng được gọi là thơ hay hay không thì phải thẩm xem câu cuối có mang lại cho ta bất ngờ tự nhiên, sảng khoái không!  Nếu không thì hỏng !

Có hai trường hợp:

1/ Khi làm một bài tứ tuyệt, quan trọng và khó khăn nhất lại là ở… câu đầu! Thường những người làm tứ tuyệt hay bị mắc lỗi ở chỗ này: bị ấn tượng bởi những bài thơ đã đọc, nên họ cứ nhè câu kết mà hạ trước, rồi mới vắt óc viết mấy câu đầu! Hậu quả là bài thơ đọc lên sẽ thấy  gượng ép!

Làm thơ cũng như… làm tình, các bạn ạ, phải tự nhiên nhi nhiên, chứ cứ băm bổ sút thủng lưới con nhà người ta ra rồi mới quay lại vuốt ve, tán tỉnh rằng anh yêu em lắm thì đểu thật!(của ông sư phụ Lê chứ không phải của tụi à nhe, chửi ổng!)

Cho nên xin các bạn, hãy nhẹ nhàng, tuy vất vả, tóm lấy câu đầu đã, mà khoan nghĩ đến câu kết! Khi câu đầu đã có thì tự nhiên câu thứ hai sẽ đến; tuần tự cứ thế, rồi thì cuối cùng câu kết sẽ tự nó đến với bạn thôi. Đến bên người yêu, ai lại nắm ngay lưng quần nàng mà tuột phắt bao giờ. Hãy nhẹ nhàng, hờ hững choàng một tay qua vịn lấy nàng, tay kia cứ thong thả để yên đấy trong túi quần (của mình). Tôi nói “vịn” nghĩa là tay giang ra nắm nhẹ bắp tay nàng, chớ có mà chơi kiểu kẹp cổ, đặt nguyên cánh tay lên bắt vai nàng phải gánh lấy trọng lượng nửa thân trên của bạn, và bàn tay thì cứ chồm chồm chực xục vào trong cổ áo con người ta!( cũng của ổng nhe!)

Đừng nghĩ gì đến việc gì cả, sau khi mân mê bắp tay nàng, tự nhiên bàn tay bạn sẽ vuốt xuống dọc cánh tay mảnh dẽ, mịn màng ấy. Cứ vuốt đi, cho đến khi nào bàn tay bạn tự nhiên phiêu bồng sang những chi và những bộ phận khác trên người nàng,  cả hai tay bạn sẽ miên man trập trùng “phố núi mây ngàn bay” bao giờ bạn cũng chẳng hay! Đấy, ba câu thơ đầu đã nhẹ nhàng hoa trôi nước chảy như thế đấy!  ( cũng của sư phụ Lê chớ không phải của tui nhe, có gì chửi ổng!)

Và diệu kỳ chưa, câu kết bỗng oà ra, thật sảng khoái vô ngần!

2/  Nếu gặp trường hợp bạn định làm một bài tứ tuyệt mà lại nẩy ra câu kết trước thì phải làm thế nào? Bạn cho rằng đó là một câu kết tuyệt cú, đắc địa cho bài thơ của mình, bạn thích nó quá đi và không muốn vất bỏ nó chút nào! Thế thì sao bạn không tận dụng, dùng luôn câu đấy mà làm câu khởi? Khi ấy, chẳng phải bài thơ của bạn sẽ vọt lên một tầm cao mới sao?!

Trường hợp này giống như bạn ngồi bên một nàng, thấy bàn chân mủm mỉm trắng hồng, bạn năn nỉ xin được chạm vào. Nàng cho phép, nhưng  đặt ra giới hạn là chỉ được chạm ngón út thôi. Với bạn, thế là đã mãn nguyện rồi. Bạn hãy nâng nhẹ ngón chân út  ấy lên, mơn trớn  trong trìu mến; lần lần  ngoáy nhẹ kẽ chân, và cứ tự nhiên, như “số trời đã định”, bạn  sẽ ngoáy sang các kẽ chân còn lại, miên man miên man! Sau đó áp cả lòng bàn tay vào gan bàn chân nàng để chà sát, rồi dùng cả nắm đấm để miết mạnh trên gan bàn chân. Đôi tay, thuận “chiều gió cuốn”, sẽ tự động lần vuốt lên bắp chân; và cứ thế, bạn sẽ trôi đi trong cơn mơ. Mãi đến khi cả người nàng mềm lã đổ ập xuống, bạn không biết đã ngược dòng Mê Kông, vung mái chèo lướt sóng lên đến tận đập Tam Điệp, hay từ đập Tam Điệp, xuôi dầm lưu lãng xuống hạ lưu Mê Kông!

Thấy chưa, hãy tạm bằng lòng với ngón chân út của nàng, sau đó từ từ thừa thắng xông lên, bạn sẽ có cả “giang sơn cẩm tú”. Chứ còn hăm hở, hùng hục quyết chiếm ngay ngôi báu thì xin lỗi, ngay cả móng chân nàng, bạn cũng chả có mà gặm!Phải không?! (LeVinhHuy)

Vậy đó, cách làm từ câu kết lên trên là như vậy đó! Dễ không?

 

Nào! thử phân tích bài thơ sau đây dựa theo hướng dẫn của thiền sư Muju.

Con sông Vàm Cỏ Tây trong vắt (1)

Trong vắt như đôi mắt lá răm  (2)

Chiến trường trăm trận chưa hề bại  (3)

Mà chết vì em tuổi nguyệt rằm.  (4)

(thơ Phạm Hồng Ân)

Ta thấy

(1) là khởi nhập,

(2) là chuyện tiếp của (1)

(3) chuyển từ đề mục và bắt đầu ý mới

(4) gồm ba câu trước lại với nhau đưa tới chủ ý

Rõ ràng quá phải không các bạn! Các bạn làm thử đi, chắc phải tuyệt thôi!

 

***

Sau đây là ít bài trong số tứ tuyệt mà tôi chỉ đọc qua một lần là tạc dạ, nhớ mãi:

Phong Kiều dạ bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San t

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền 

(Trương Kế)

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều

Trăng tà chiếc quạ kêu sương

Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

(Nguyễn Hàm Ninh dịch )

Tĩnh dạ tứ

Sàng tiền mình nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương.

Cử đầu vọng mình nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.

Lý Bạch

 

Đầu giường trăng sáng đứng soi

Nhởm mình ngỡ đất bời bời sương rơi

Ngẫng đầu trăng vãi trắng trời

Cúi đầu đối bóng bồi hồi nhớ quê

(Laiquangnam Lai dịch)

 

Vn Hoài thu (***)

Tự ta danh lợi khách,

Nhiễu nhiễu tại nhân gian.

Hà sự trường Hoài thuỷ,

Đông lưu diệc bất nhàn ?

(Bạch Cư Di)̣

Trong vòng danh lợi thương ta,

Cái thân nhăng nhít cho qua với đời.

Việc chi, hỡi nước sông Hoài ?

Cũng không thong thả, miệt mài về đông ?

(Tản Đà)

Đó ba bài Tứ Tuyệt của người Trung Hoa,sau đây là vài bài của người VN mình.

Sông núi nước Nam, vua Nam

Rành rành đnh phn sách tri.

Csao lũ gic sang xâm phm?

Chúng bây sbị đánh tơi bi!

(Lý Thường Kiệt)

 

Ngn giáo non sông tri my thâu,

Ba quân hùng hát sao Ngưu.

Công danh nếu đcòn vương n,

Lung thn tai nghe chuyn Vũ hu.

(Phạm Ngũ Lão – Phan Kế Bính dịch)

 

Mt trà, mt rượu, mt đàn bà,

Ba thc lăng nhăng nó quy ta.

Cha được thc nào hay thc ny:

– Ha chăng cha rượu vi cha trà!

(Chừa ruợu – Trần Tế Xương)

 

Thân em như qumít trên cây,

Da nó xù xì, múi nó dy.

Quân tcó thương thì đóng cc,

Xin đng mân mó nha ra tay.

(Quả mít – Hồ Xuân Hương)

 

Và của ông bạn thi sĩ Nguyễn Hàn Chung.

Cụ già tới tiệm phô – tô

Ôm theo tấm ảnh một cô gái làng

Chỉ còn là bóng thời gian

Cụ nôn nao lắm. Hồng nhan một người

(Nguyễn Hàn Chung)

 

Đàn bà giống như bọt bia trào xuống tay mình

Không một thằng bợm nào bỏ qua không chấm mút

Nhưng chớ dại nốc cạn cùng đáy cốc

Đời chú mày không liệt cũng run run!

(Nguyễn Hàn Chung)

 

Cùng Nguyễn Đức Sơn.

Mai sau người nhớ đến ta

Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi

Đường xa xin chớ bồi hồi

Mồ hoang nhảy đại lên ngồi đi cha

(Nhắn – Nguyễn Đức Sơn)

***

Qua trên, Nguyên Lạc tui đã mượn lời sự phụ mình để lược sơ về thơ hay Tứ Tuyệt. Chắc chắn là nó chứa rất nhiều sai sót, xin các bậc cao mình bỏ qua cho và góp ý thêm cho bài được hoàn thiện. Có gì thì chửi ông sư phụ chứ đừng chửi tui nhe!  Xin tạm biệt quý bạn.

 

Nguyên Lạc   

————————————————————————————————————         

Nguồn:    Việt Nam văn học sử yếu- ​Dương Quảng Hàm ,  Đỗ Đình Đồng, Laiquangnam Lai.

LeVinhHuy.

Ghi chú:

(*) Thạch sa tập – Thiền sư Muju  (bản dịch của Đỗ Đình Đồng – Góp nhặt cát đá)

(**)

Vấn Hoài thuỷ
Bạch Cư Dị

Tự ta danh lợi khách,
Nhiễu nhiễu tại nhân gian.
Hà sự trường Hoài thuỷ,
Đông lưu diệc bất nhàn ?

Chú vài từ
1- Vấn Hoài thuỷ tạm dịch “ Xin hỏi dòng sông Hoài”
Ngừoi Hội an cứ hiểu laiquangnam viết về dòng Sông Hoài của mình

2- Lợi ngoài nghĩa thông thường trong Việt ngữ như bạn đã biét như lợi lộc ,danh lợi Trong câu này có co nghĩa là ham muốn ,hám ,Nhiễu là làm phiền Việt ngữ phiền nhiểu ‘
Hà dùng đầu câu mang ý hỏi vặn , Cớ nào ,vì sao ,

Ý thơ

Tự mình sa vào chốn quan trường ,ham danh háo lợi ;
Thế nên nay tuy ta sống tại cõi nhân gian này, nhưng cuộc đời ta nó chả ra đám ôn gì.
Chợt nhìn thấy giòng sông Hoài chảy xiết về biển Đông ,ta xin hỏi dòng Sông kia một câu .”cứ miệt mài nhắm về biển đông mà góp sức mình ,không chịu ngơi nghĩ ,
Thế thì làm sao mà Giòng Sông biết được Nhàn là cái quỷ quái gì hả ?

Dịch thơ quốc âm

01

Tuyệt cú

Ai biểu ham chi cái lợi danh
Bị đời nhũng nhiễu phải âu đành
Sông Hoài cố giúp lời ta hỏi
Miền miệt về Đông, Nhàn lánh Khanh ?

02
Lục bát

Hám danh Ai biểu ham chi !
Nhân gian ta sống lắm khi ưu phiền
Sông Hoài ,Ta hỏi Bạn hiền
Về Đông mài miệt ….nhãn tiền NHÀN bay /bye

03

Song thất lục bát

Ham chi danh lợi nhào ăn có,
Sống một kiếp người nhọ , hổ ngươi?
Sông Hoài, hỏi bạn, _Chớ cười
Xuôi Đông tuốt tuột, _nề, Ngươi bất NHÀN?
Phải hôn?

Bản dịch của lớp Đàn Anh

Năm 1938 Tản Đà đã có bản dịch trên Tạp chí Ngày nay, số 92, 2-1-1938 như sau

Trong vòng danh lợi thương ta,
Cái thân nhăng nhít cho qua với đời.
Việc chi, hỡi nước sông Hoài ?
Cũng không thong thả, miệt mài về đông ?

Tự nhận xét
Rõ ràng ngôn ngữ Việt đã đổi thay. Thời đại đã đổi ,trên bàn nhậu đòi hỏi có bản dịch “giang hồ “ cho dân trên Sáu bảy chục bó ,họ ngồi lại với nhau ,cùng cười ,sau tiếng dô ! dô! 100%

Tự ta xếp loại hám danh
Thế sự âu đành nhũng nhiểu lâu nay
Hoài ơi ,Mỏa hỏi Toa này
Về Đông mãi miết, nhàn bay /bye, tiêu đời! .
Hởi ởi ,,
Dô nì , 100% .   (Laiquangnam)

 

 

                 Biu Ngũ ngôn Tht ngôn bát cú, lut bng (B) trắc (T)

 

 

 

 

 

 

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here