KHẮC KHOẢI HỒN QUÊ

0
638

Đinh Công Tôn

Một đêm sống với phố cổ Hội An khiến tôi vô cùng xúc động. Chính cái phong cách sinh hoạt đượm màu sắc cổ kính của người dân nơi đây đã đánh thức trong tôi một hồn quê tưởng chừng đã ngủ yên trong quá khứ. Tôi bỗng thấy khát khao vô cùng…Mong có cách nào để tôi ngược dòng về sống lại dù một giờ, một phút với miền quê yêu thương của tôi thuở nào.
Làng tôi ngày xưa là một vùng đất dọc theo triền đồi chia thành ba xóm. Xóm trên gối đầu lên hai phần đồi nên cây cối phần lớn đều là những loại cây ăn quả có thân mộc cao to tầm đại thụ. Xóm dưới gần đường cái là vùng thấp nên có nhiều ruộng hơn là vườn ( mà vườn cũng là ruộng ). Còn xóm giữa là nơi tôi ở. Địa hình cũng khá đặc biệt. Nó nằm vây quanh một cái bàu, bên ngoài có luỹ tre bao bọc. Vườn nhà nào cũng có vài cây bòng, đôi gốc cau, gốc mít. Đất còn lại để trồng sắn, trồng khoai nên màu xanh bốn mùa có phần thưa thớt hơn.
Tuy vậy, xóm tôi được coi là đẹp nhất làng nhờ cái bàu làm trung tâm của mọi sinh hoạt. Vào mùa hạ, mùi hương sen thoang thoảng khắp một vùng. Những người thuộc lứa tuổi trung niên thích đưa hương ấy vào từng ấm trà buổi sớm. Lớp thanh niên thì thích cầm cần câu kiếm vài con cá ven bờ vừa để giải trí, vừa tăng thêm chất lượng cho bữa ăn đạm bạc. Đám trẻ con thích lội men theo chân ruộng sát bàu để bắt ốc bươu về nhồi nghệ với gia vị rồi đem nướng dưới rơm khô làm món khoái khẩu. Sang thu, bàu chỉ còn có cỏ lác mọc đầy rất thuận lợi cho các loài thuỷ tộc sinh sôi, phát triển – một nguồn thức ăn cần thiết của mọi nhà. Với kết cấu đa dạng như vậy đã khiến cho bất kì ai vào làng cũng có thể nhận ra được cái phong vị của một vùng quê với nhiều vẻ: hương lúa, hương sen, hương đồng; mùi cỏ, mùi khói bếp, mùi rơm rạ, mùi bùn đất…luôn ngan ngát, ngai ngái trong khứu giác của mình. Con đường vào làng tôi theo địa hình kiểu bán sơn địa đã trườn lượn quanh co, khúc khuỷu vào đến tận cây đa đầu làng rồi mới tẽ thành các nhánh để toả ra các xóm.
Nếu ai đó có ý định đi tìm thứ âm thanh đặc trưng của làng, tôi nghĩ, chắc không thể nào quên được tiếng nước chảy riu ríu trên các con mương dẫn đến bờ vùng bờ thửa. Nước chảy qua ống tre kêu uột uột, ồ ồ. Nước vào lỗ trổ kêu rọt rọt, rò rò. Nước từ triền cao xuống đồng thấp nghe ron ron như nhạc ngựa. Vào sâu trong làng theo từng thời điểm ta lại bắt gặp thứ âm thanh vui tai ríu rít, rộn rã của những chú chim sẻ, chim sâu chào buổi bình minh. Khi mặt trời lên khoảng vài con sào, cái nắng mùa hè đã thôi thúc mấy chàng chèo bẻo vắt vẻo từ các vòi tre ngân nga đãi giọng đà…trưa…trật… Khi con bóng quấn chân người thì tiếng thớt bắt đầu gõ lanh canh, tiếng heo kêu eng éc. Lúc này, mỗi gia đình sau một buổi đi làm về, lại quần tụ bên mâm cơm. Nhà trên, nhà dưới rân ran câu chuyện, thỉnh thoảng rộ lên tiếng cười thật khoái trá. Vào thời điểm chạng vạng thì tiếng người gọi trâu, tiếng trâu gọi con nghé ọ, í a, í ới…Cậu mục đồng nào ham chơi, để nghé con lạc mẹ thì tiếng gọi của cậu ta từ ngoài đồng vọng vào “ con nghé ơ hờ…con nghé ơ…ơ…” nghe mà tha thiết, nao nao. Những hôm tối trời, vào tiết mưa, âm thanh rõ nhất là tiếng uềnh oang của mấy chú ễnh ương từ đồng này vọng sang đồng kia, kéo dài như ngao ngán một điều gì. Còn những lúc có trăng, vào mùa hè, âm thanh sôi nổi, rộn rã nhất là tiếng hét, tiếng la của bọn trẻ đang giành nhau đá một trái bóng bằng cuộn dây chuối (hoặc trái bòng) trên những thửa ruộng còn trơ gốc rạ ở cuối làng; hoặc tiếng cười nói rân ran của đám trẻ khác đang chơi các trò giật cờ, đuổi bắt, trốn kiếm. Nhưng có lẽ những thứ âm thanh tôi cho là đặc sắc nhất, mang nhiều hồn quê nhất là tiếng bà ru cháu, mẹ ru con : “ À ơi ! Công cha như núi ngất trời – Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông…” Tiếng ru ngân nga, trong vắt, trầm bổng, dìu dặt như cố kéo cho được con buồn ngủ đâu đó về chực sẵn bên vành nôi với lũ trẻ. Và tiếng xay ù… ù… của cái cối xay tre hoà nhịp với chày đôi, chày ba giã gạo thình thịch. Tất cả làm nên những đêm miền quê tĩnh mịch mà không lặng ngắt, vận động mà không ầm ĩ. Ngần ấy thứ âm thanh cũng đủ làm cho khách phương xa có một lần dừng chân trú ngụ sẽ khó mà quên được.
Làng quê xưa quanh năm lam lũ với ruộng đồng, một nắng hai sương đúng nghĩa. Chẳng mấy khi và cũng chắng mấy ai ăn trắng mặc trơn, chưng chưng diện diện. Chiếc nón ban đầu còn lành lặn, để dành đi thăm viếng, dần dần nó bung vành, tơi lá thành nón cời, phải cắt bớt một, hai vành để dùng tiếp. Đến khi lủng chóp thì người ta đem lót ổ gà, làm ổ chó chứ chẳng muốn bỏ đi. Áo quần cũng vậy, lúc còn tốt người ta dùng để đóng bộ đi lễ lạc, cũ một chút mặc trong nhà, mà cũ lắm thì mặc ra đồng. Ai có giỏi giữ cũng phải đến giai đoạn vá quàng, vá miếng, vá đụp, vá chằng. Bao nhiêu miếng vá cứ đè lên nhau miễn sao cho kín thân là được. Nếu rạn quá, không còn mặc được, người ta đem xé những mảnh lành cất lại, còn thì thải ra để lau chén, lau bàn chứ chẳng chịu vứt ngay.
Bữa cơm dọn ra tuỳ theo gia đình nhiều hay ít miệng ăn mà có cách bố trí phù hợp. Nhiều thì dọn trên bàn độc kéo dài với từng thứ lớp ngồi xếp hai bên, ít thì dọn trên mâm gỗ đặt nơi chõng tre rồi mọi người xếp vòng quanh tứ phía. Các món ăn rất đạm bạc. Hôm nào sang thì có bát canh, đĩa cá đồng, còn thường thường vẫn là dĩa mắm, chén dưa cay cay, mặn mặn cho qua bữa. Nồi cơm bằng đất nung đặt trên rế ở cuối bàn ăn, phản ánh rõ nhất từng mùa vụ. Bội thu thì cơm độn ít sắn, ít khoai, mà thất thu thì lát sắn chỉ đậu được vài hạt cơm. Do đó, mỗi bữa ăn, ông bà thường nhắc con cháu “ hạt cơm là hạt ngọc của trời, đừng để rơi vung vãi mà phải tội ”. Tôi nghĩ rằng ý kiến trên chắc phải gần với tục lệ bỏ vào miệng người chết mấy hạt gạo, mà cũng không xa với ý nghĩa sâu sắc của lời ca dao :
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần .
Những điều kiện sống về mặt vật chất nói trên tuy có nhiều nét kham khổ đến tội nghiệp nhưng lại làm cho những sinh hoạt có tính chất lễ nghi trở nên thiêng liêng, trang trọng hơn. Chẳng hạn như việc đón tết Nguyên đán được chuẩn bị trước trong cả tháng chạp với bao nhiêu thứ : lo mua sắm áo quần mới cho con trẻ, chuẩn bị tương đối các thứ gạo, nếp, lợn, gà; lo quét dọn nhà cửa, tu sửa đường sá. Không khí của lễ hội bắt đầu từ hai mươi ba tháng chạp có khi đến hết rằm tháng giêng. Trong thời gian này, người đi kẻ lại, ai nấy đều vui tươi hớn hở, mọi giận hờn được gạt bỏ. Họ chúc tụng nhau bằng những lời tốt đẹp chân thành. Những năm được mùa, dân làng thường tổ chức nhiều cuộc vui tại sân đình như đánh cờ, đập nồi, thổi cơm thi, bày mâm cỗ đẹp. Ban đêm, làng có một đội ngũ đào kép “ cây nhà lá vườn” lên trước sân đình, diễn các tuồng cổ cho mọi người xem. Đó là những cuộc vui chung ai cũng có thể tham gia, thưởng thức. Ý nghĩa cao nhất thông qua những hoạt động chính là sự chan hoà, thân ái, gắn bó keo sơn hơn về tình làng nghĩa xóm giữa mỗi thành viên với cộng đồng xã hội.
Đã hơn mấy chục năm đi qua rồi, làng quê tôi bây giờ không còn một chút gì của ngày xưa nữa. Một mặt vì chiến tranh tàn phá, mặt khác nó bị biến dạng hoặc triệt tiêu bởi bao lớp sóng văn minh, ngoại lai ào ạt xô tới. Con đường vào làng được đắp sửa, đổ bê tông thẳng tắp, phù hợp với tốc độ xe phân khối lớn nhiều hơn là cho khách bộ hành. Cái cây đa sừng sững ở đầu làng vốn là một trong những điểm hẹn quen thuộc của mọi người – nhất là những thanh niên nam nữ – đã biến mất hoàn toàn. Chẳng còn ai nghĩ đến việc tạo ra một hậu thân khác của nó nữa. Có lẽ vì đất hẹp, người đông; mỗi bước ra vào làng xóm là có xe đưa đón, thoắt đi thoắt về, ai hơi đâu mà đủng đỉnh dưới gốc đa để ngơi một chút cho qua cái nắng của trời, cái mỏi chân của người. Cho nên chuyện dừng chân bên gốc đa, quán nước: vấn điếu thuốc, uống bát nước chè xanh, ăn miếng trầu, hỏi han chủ quán chỉ còn trong ca dao, cổ tích.
Vào trong làng ta thấy sự đổi thay càng lớn hơn. Những nhà tranh thấp thoáng dưới tàn cây đã được thay bằng những nhà hộp ken nhau, tường sát tường, xây kín mít. Cái cửa chống lên để ra vào được thay bằng thứ cửa sắt he hé, rít rít lạnh lùng. Hàng rào dâm bụt mượt mà để nhà này có thể chui tắt qua nhà kia xin tí lửa nhóm bếp, mượn vài lon gạo nấu ăn đã được thay bằng dây thép có gai hoặc lưới sắt ngăn trở mọi sự xâm nhập. Ngày tết chẳng khác chi ngày thường. Bao nhiêu thú vui hút hết vào màn hình vài chục inch nhỏ bé mà đủ cả. Chẳng ai muốn đến nhà người khác để thăm viếng chúc tụng nữa. Đám cưới thì ồn ào với đủ thứ nhạc hiện đại. Việc đưa rước cô dâu chú rễ thì thoắt chốc mất hút theo mấy chiếc xe thuê sẵn. Hai họ đâu còn chầm chậm đi trên con đường làng, soi bóng xuống hai bên bờ ruộng để mọi người ngắm nghía, bình phẩm.
Lớp con cháu của chúng ta nếu có lọt tai những điều này biết đâu có đứa lại chép miệng: “ Ối dào, cái cảnh tù túng, bùn lầy, nước đọng, quanh năm bọc trong cái luỹ tre như cái tổ kén mà tiếc nuối làm gì!”, có đứa lại bảo:“ Thời đại văn minh rồi, phải xoá hết ba cái làng cổ ấy đi thì mới thành thị hoá nông thôn được !”. Lại có đứa ngơ ngác khi nghe kể về làng xưa, nó bảo : “ Ô hay nhỉ! Nghe chuyện làng quê nó lạ quá như lạc vào cái thuở nảo nao không biết .”
Người viết bài này thiết nghĩ, trong vốn cổ có nhiều cái đáng bỏ đi nhưng không ít cái cần phải được bảo lưu bằng mọi cách, trong đó có làng xưa, xóm cổ. Song song với việc xây dựng nông thôn mới, ta cũng phải tính đến việc duy trì, khôi phục lại những làng Việt cổ là điều cần thiết, nên làm (tất nhiên phải có chọn lọc) để lưu giữ một hồn quê đẹp đẽ, chân chất của cha ông cho con cháu muôn đời sau tự hào, tiếp nối…

Đinh Công Tôn (facebook )

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here