BAY ĐI NHỮNG BÔNG GÒN…

0
319

Tản văn của NGUYỄN HỮU ĐỔNG

Từ đời nảo đời nào, những cây gòn đã cắm rễ tha nhân vào vùng đất Điện. Ai mà biết được. Nhưng mỗi loài cây khai sinh cũng mang thân phận, số phận tựa con người.
Thì đây, trên vùng đất chung quanh thành La Qua xưa, khi tôi lớn lên thường gặp bóng gòn đứng đầu làng, đầu chợ, những ngã ba có sạp của bà bán kẹo ú bọc lá chuối khô. Chợ Vĩnh Điện có cây gòn đứng trấn đầu ngõ phía nam ra, chếch về bắc thì có cây me, phía tây sát mé sông giờ lại mọc thêm cây đa. Ba cái cây sinh tồn trên nền chợ, nghe biết bao tiếng chợ thức, chợ ồn như vỡ đêm 30 Tết rồi chợ tan buồn như chiếc chiếu manh sót lại.
Cây gòn ở chợ Vĩnh Điện chắc nhiều người khó quên. Với anh trai tôi càng không quên. Nó ghi dấu sự lãng mạn, nơi đi qua thường gặp nụ cười cô hàng xén, lặng lẽ mà ấm áp trong những buổi chiều xuân. Anh yêu cô bạn học cùng trường Nguyễn Duy Hiệu, chắc bóng gòn đã che những nụ hôn trắng hồng tựa sợi bông tinh khiết ban sơ. Rồi anh đi bộ đội, nỗi nhớ nào giăng mắc như bông gòn bay, trắng cả trời chiều biên giới. Người ta hay lấy bông gòn độn gối. Ai làm thế để nỗi nhớ càng miết vào giấc ngủ của những người đang yêu?
Đến lượt tôi, bông gòn lại bay từ phía bắc Vĩnh Điện. Trên đường thiên lý Bắc- Nam, vào qua cây Da Dù nổi tiếng, xưa có cây gòn mọc trước lối vào làng Phong Nhị. Ở đó tôi gặp em rồi yêu lúc nào, để những bông gòn lả tả rụng xuống nỗi nhớ nhung suốt quãng đời sinh viên cho đến khi thành vợ chồng…
Thời học ở Huế, những cậu học trò nghèo xứ Quảng thường đi làm thêm đủ việc để kiếm cái lót dạ. Tôi may mắn tìm được việc… bửa củi gòn cho bà bán cháo lòng. Tưởng dễ ăn, ai ngờ cây gòn tuy xốp nhưng bị héo thì dai nhách, bửa vào là găm nguyên lưỡi búa, rút thấy “ông nội” vẫn dùng dằng. Hai thằng sinh viên, bửa cả tiếng rưỡi mới hết cây gòn. Bà bán cháo nói trả tiền công, thôi thì ăn luôn, hai thằng tám tô. Bụng sôi òng ọc ăn cháo lòng “phê” thiệt, nhưng tối về từng lớp da tay mưng nước, cầm bút cù cong. Nhớ đời!

Vậy ra gòn không chỉ gieo những sợi bông tưởng tượng đầy lãng mạn. Gòn còn gắn với những mảnh đời trần trụi cơ cực mà đâu phải đến đời tôi mới cảm thấu. Nghe mẹ kể, xưa ai nhặt được trái gòn rụng bay là quý lắm, nhét cất kỹ, lâu dần đủ độn thành chiếc gối êm. Lưng của những người già xương xẩu, gồ ghề, miếng lót nệm ấm những sợi bông gòn đỡ những đêm thao thức việc làng, việc nước, hay thân phận nhà nghèo. Việc hiếu cũng vậy, có được cái gối gòn là để dành cho cha mẹ già.
Ai có biết cây gòn từ đâu sinh ra? Với sách thường thức khoa học thật dễ tìm gốc gác của gòn, đó là cây họ Cẩm Quỳ, tách ra từ cây họ Gạo. Gòn có nhiều ở Mê-hi-cô, Trung Mỹ, Caribê, Phi Châu…Gòn lang thang ở quần đảo Nam Dương, trở thành thứ cây trồng để phát triển kinh tế thương mãi một thời. Và, vì vậy có bông gòn Ja Va, không khác chi bông lụa Ấn Độ.
Nhưng gòn đến đất Việt từ lúc nào? Không rõ. Tôi đọc Sơn Nam, mới hay có cái chợ củi gòn, rồi trại dần ra thành Sài Gòn. Miền suy tưởng dắt tôi về quê, chợt nhớ Điện Bàn có dòng sông Chợ Củi (Sài Thị giang), liệu có chàng trai nào theo ghe bầu vào Nam trở ra với cô gái Sài Gòn, đã mang theo trái gòn gieo lên những hạt mầm tâm tưởng “ghe bầu trở lái về đông”…
Thần thoại Maya kể, gòn là cây linh thiêng, còn trong tôi gòn là cây gần gũi, chứng tri những đổi thay dâu bể. Như trong quãng 30 năm nay, vùng đất Điện Bàn đã thành khuôn mặt khác. Như chỗ đầu làng Phong Nhị giờ hiện diện cái bến xe Bắc Quảng Nam, cây gòn tuyệt tích mà người làng chưa quên. Chợ Vĩnh Điện đã dời đi chỗ mới, cây gòn cũng đã bị chặt, chỉ còn cây me. Mỗi lần tôi chạy về thăm mẹ, qua đó thấy nhớ bóng gòn, chợt bay lên ngàn bông trời kỷ niệm…

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here