Đôi dòng về truyện ngắn “Đàn ông” của Võ Phiến

0
648

vo phien
Hồ Trung Tú
Trên đời này có gì khó hiểu hơn đàn ông không? Nhiều người nói đàn bà con gái khó hiểu chứ tôi thì không nghĩ thế, cái sự khó hiểu của họ như cơi đựng trầu vậy, ông bà nói rồi, nói có là không, nói không là có, nhưng thực ra cũng không khó hiểu mấy đâu, nhìn vào mắt là hiểu ngay ấy mà. Thơ phụ nữ viết là thơ chân thật nhất trên đời. Họ nghĩ sao viết vậy, đúng thực lòng họ. Còn đàn ông thì không. Thơ đàn ông đầy những lời cao cả nhưng cuộc sống họ thì hèn mọn không để đâu cho hết. Đàn ông mới thực sự khó hiểu. Thánh nhân đó nhưng tên phàm tục cũng ngay đó, người hiền đó mà bỗng chốc thành tên sát nhân không ai ngờ. Họ rao giảng đạo đức nhưng tối về lại ôm những giấc mơ trụy lạc đến khó tin. Họ mơ ước với những lý tưởng như xây dựng thiên đường trên trái đất nhưng ngay từ điểm xuất phát mầm mống địa ngục đã hình thành mà họ không thèm thấy, không thèm biết. Họ tự huyễn hoặc mình, tự vẽ nên những nhãn mác lừa người rồi đến lúc lại tin ngay cả những nhãn mác ấy. Không, đàn ông mới thực sự khó hiểu chứ không phải đàn bà đâu. Đó là một thế giới mà thiên tài S.Freud đã khám phá được một phần nhưng sự tối tăm, bất nhất của nó thì nhân loại vẫn còn cần rất nhiều nỗ lực nữa mới hiểu thấu.
Truyện ngắn “Đàn ông” của Võ Phiến, ngay từ khi đọc nó năm 20 tuổi, tôi đã biết đây là một truyện ngắn hay vì nó đã vén lên cho tôi thấy cái thế giới đầy mâu thuẫn ngay chính trong bản thân mình.
Suốt mấy chục năm tôi gặp khá nhiều người đọc “Đàn ông” thế nhưng dường như ai cũng chỉ nhớ rằng đó là truyện ngắn kể về một người đàn ông phóng đãng, hoang đàng, xin tình với cả con gái của bạn mình khi mà đã già cận lỗ. Ngay khi tin Võ Phiến mất trên Facebook nhiều người cũng nhắc đến truyện này kèm với một nhận xét về ẩn ức sinh lý của đàn ông. Hơn nửa thế kỷ qua, rất ít nhà phê bình bỏ công về truyện ngắn này. Ngay Thụy Khuê, trong một tổng luận về Võ Phiến cũng nhắc đến truyện này như sau: “Trong Đàn ông, Võ Phiến dùng cái nhìn của một người đàn bà giang hồ để vẽ chân dung những người đàn ông. Họ đều gặp nhau ở “chỗ ấy”. Từ trẻ (Tạo) đến già (cụ tú Từ Lâm), “mọi đau khổ, cảm xúc, rung động cao thượng hay ham muốn yếu hèn … đều đưa người đàn ông đến chỗ gặp gỡ ấy. Như thể một khi đã mất hết, dường như đàn ông chỉ còn có sinh lý là cứu cánh. Võ Phiến đã đào sâu xuống những đau khổ, u uất trong những thân phận đàn ông sa cơ, thất vận, phiêu bạt, bị bứt khỏi cỗi rễ của mình. Ông xóa tiệt những ảo ảnh về người đàn ông, từ già đến trẻ, phơi họ trần truồng trực diện với những đớn đau và ham muốn không giải quyết được”.
Không, tôi không tin Võ Phiến chủ đích muốn nói về đàn ông là: “một khi đã mất hết, dường như đàn ông chỉ còn có sinh lý là cứu cánh”. Nói thật, cho dù sự thỏa mãn sinh lý là cứu cánh thực đi nữa thì nó cũng ngắn chỉ mấy giây rồi thôi mà, sau đó vẫn là mênh mông nỗi buồn của sự “mất hết” đó chị Thụy Khuê ạ , nó, cái sinh lý ấy, không hề giải quyết vấn đề cũng không hề là mục tiêu để trốn chạy. Võ Phiến nói cái chỗ gặp gỡ ấy của đàn ông cả lúc vui lẫn lúc buồn vì xét cho cùng nó như một liều Aspirin hoặc Paracetamol, xoa dịu cơn đau đấy những có giải quyết vấn đề đâu. Không phải, cái chuyện lúc vui cũng như lúc buồn đều úp mặt vào ngực người đàn bà nó còn là một trạng thái thiền nữa, lúc đó họ như tạm quên tất cả, cái đầu sẽ rỗng ra, không nghĩ gì cả. Quả thật điều đó đàn ông thèm lắm, cái đầu không nghĩ gì cả ấy. Họ nhậu say, chơi thuốc phiện hay chúi đầu vào sex cũng đều thế, tạm quên tất cả. Trí não rỗng không. Vậy thôi, nó tạm bợ lắm, đàn ông ai cũng biết điều này, nếu Võ Phiến không biết, lại bảo đàn ông “sinh lý là cứu cánh” thì Võ Phiến tệ quá, chả hiểu đàn ông gì cả . Các bạn đọc vào truyện sẽ thấy cái “cứu cánh” ấy không hề là mục đích của Võ Phiến khi viết truyện này. Đàn ông trong truyện ngắn “Đàn ông” tội nghiệp hơn nhiều, đáng thương hơn nhiều; đó là một thế giới bị sụp đổ, cái thế giới truyền thống mà họ yếu mến, bao đời cố công gầy dựng nên và nó đang sụp đổ, rạn vỡ ngay dưới chân của họ. Đó mới là bi kịch to lớn mà dân tộc này đã trải qua và được mô tả vô cùng hay trong Đàn ông của Võ Phiến.
Ông Tú Từ Lâm là biểu tượng cuối cùng của cái thế giới ấy. Ông đã góp công cùng với cha ông và tổ tiên xây dựng nên cái thế giới cổ truyền ấy. Lê, cô gái nhảy trong truyện, biết điều đó, biết ông Tú Từ Lâm khi cô mới bảy, tám tuổi, cũng đã tin yêu cái thế giới ấy hết lòng và cũng đau xót khi nhìn thấy nó rạn vỡ.
Chi tiết cuối truyện, Lê mân mê vết bẩn trên mu bàn chân, mà ông Tú Từ Lâm vụng về để lại, chính là cái thiên tính nữ Việt thương xót cái thế giới đã rạn vỡ và đang biến mất ấy.
*
Ở một chỗ khác, Thụy Khuê viết: “Ông Tú Từ Lâm trong truyện Đàn Ông, biểu hiện môt thành phần khác, thành phần đã qua cửa Khổng sân Trình, biết đôi chữ thánh hiền, để cho người đời trọng vọng. Nhưng nay ông cũng theo thời mới, ông mặc Tây, đeo kính râm, khoác khăn phu la, ông phê bình thời sự, ông nói sử sách kim cổ. Chị Lê, cùng quê Bình Định với ông, là người định mệnh trôi dạt vào Sài gòn, làm điếm. Nếu ông Ba Thê Đồng Thời chỉ ăn bám vào những người có tiền có thế lực, thì ông tú Từ Lâm còn xuống dốc một mức nữa, ông ăn bám cả vào người đàn bà lỡ vận đáng tuổi con cháu ông. Chị Lê nuôi ông, cả cơm ăn lẫn thể xác. Ông tú Từ Lâm là một trong những nhân vật đớn đau nhất mà tiểu thuyết Việt Nam đã sản xuất ra. Một sự xuống dốc cốt cách, trang trọng, gần như trịch thượng của thành phần chữ nghiã thánh hiền. Và như thế Võ Phiến đã gần như tiên đoán được những gì xẩy ra cho thành phần trí thức trong thời điểm về sau.”
Các bạn đọc truyện và tôi tin sẽ không thấy vậy, không nghĩ vậy. Ông Tú Từ Lâm không có gì phải đau đớn cả. Nếu muốn tả một chuẩn người cũ không thích hợp trong một xã hội mới Võ Phiến sẽ chọn một mẫu nhân vật khác, kiểu như Đông Ki-sốt, cố gắng chống đỡ, cố gắng núi kéo thế giới cũ ấy nhưng thất bại chồng thất bại, đến thân tàn ma dại. Thế nhưng ông Tú Từ Lâm thì không , việc ông tấp vào nhà Lê ở vô thời hạn là chuyện rất bình thường trong những năm đó ở miền Nam. Khi mà làng quê bom đã rơi, đạn đã nổ người ta bồng bế nhau chạy vào thành phố thì việc người vào trước cưu mang người vào sau là chuyện rất bình thường hồi đó. Như nhà tôi, một mẹ dẫn theo đàn con sáu bảy đứa nheo nhóc, hết ở nhà dì Hai, đến nhà dì Quý. Và khi ổn định thì cô Năm, dì Tám cũng kéo cả nhà đến tá túc hàng năm trời. Việc ông Tú Từ Lâm tạt vào nhà Lê ở vô thời hạn không hề là chuyện “Chị Lê nuôi ông, cả cơm ăn lẫn thể xác”. Đó là chưa nói ông mang đến cho Lê khá nhiều niềm vui mà cô không thể tìm được ở đâu khác. Cô gặp ông thấy vui hơn là khi gặp cậu em trai mình trước đó.
Không phải vô cớ mà mẹ của Lê bằng cái linh tính (chữ của Võ Phiến) đã luôn cảnh giác với ông Tú. Cũng thật, một người “đàng hoàng” cũng khó mà chấp nhận được một người vô tích sự với đời như ông Tú Từ Lâm. Thật ra thì thời đó người như thế quan trọng lắm, họ có chữ, biết cho thuốc, biết xem ngày giờ tốt xấu, biết huyệt đạo địa lý để cải táng ông bà mong đổi đời con cháu, lại là mang thông tin đi các nơi, thậm chí là nguồn tin duy nhất đến với các làng hẻo lánh. Những người như thế quan trọng lắm chứ. Khi làng quê có radio, rồi báo chí sách vở đến tận nơi bỗng chốc họ trở thành vô tích sự thật. Võ Phiến đã chọn nhân vật rất điển hình để mô tả một thời đã qua. Thực lòng Võ Phiến chắc cũng thương họ. Ông ấy muốn có một chút an ủi nên ban cho chút sex trước khi để họ biến mất khỏi trần gian.
Và quan trọng nhất, sự suy tư của ông Tú Từ Lâm, nỗi buồn phiền nhìn một cuộc đổi thay long trời lở đất trên dải đất hình chữ S này cho thấy ông Tú Từ Lâm không hề là “ăn bám cả vào người đàn bà lỡ vận đáng tuổi con cháu ông”. Ông Tú Từ Lâm là biểu tượng rạn vỡ đẹp nhất của thế giới truyền thống mà văn học Việt Nam tạo ra chứ không hề là “nhân vật đớn đau nhất mà tiểu thuyết Việt Nam đã sản xuất ra”, chị Thụy Khuê ạ, tôi thực lòng nghĩ vậy.

Chúng ta hãy đọc lại vài sự suy tư của ông Tú Từ Lâm. Tôi nghĩ, như đạo Phật vậy, người đã đi tu, xuất gia thì cả xã hội phải có nhiệm vụ nuôi họ, không ai bận tâm người đi tu là ăn bám, ăn xin xã hội cả. Ông Tú Từ Lâm cũng vậy, chỉ với những suy tư như thế này thì Lê hay bất cứ ai, nhất là phụ nữ Việt Nam, cũng sẽ sẵn sàng nuôi cơm họ mà không bận tâm họ ăn bám hay ăn nhờ vào mình huống hồ ông suy tư cho cả một dân tộc, cho cả một ngàn năm đang lụi tàn:
Trang 220. Chứng tỏ ông Tú Từ Lâm nhớ quê. Đây không phải là nỗi nhớ trong lòng mà là thứ nhớ nhung của vị giác, của chót lưỡi. Các giác quan chúng cũng có cách nhớ nhung riêng của chúng.
223 Bất cứ ai, rồi thầy sẽ thấy, bất cứ ai cũng cần đến một dĩ vãng… nghĩa là…. đến một giai đoạn nào đó trong đời bỗng cần cảm thấy mình có dĩ vãng… nghĩa là ai cũng cần cảm thấy mình từng có một đời sống, phải, từng có một đời sống để tiếp tục.
224. người ta sốt sắng suy tìm , tìm lối này không được bỏ đi rồi tìm lối khác … nhưng sự suy tìm kéo dài mãi, xóa bỏ mãi, phát sinh ra tâm hoài nghi, làm cân não con người ta suy nhược, người ta đâm ngờ vực, e ngại. Mệt mõi lắm chứ. Đến một giai đoạn người ta muốn nghỉ tìm kiếm .
225. Đi đây đi đó lang thang hoài ai cũng ao ước được trở về sống trong ngôi nhà của mình, sáng dậy nghe những tiếng chim mình thường nghe hồi nhỏ, mắt trông ra cửa ngó thấy cây gạo giữa đồng mà mình vẫn thấy hồi nhỏ, quay vào nhìn cái giá sách đóng từ thời ông nội để lại, ngồi lên một chiếc ghế do ông thân mình hoặc do chính mình mua trong một dịp vui vẻ nào đó, ăn trái xoài của cây xoài do mẹ mình trồng, xin hột từ nhà bà ngoại đem về… Những cái đó làm cho mình bớt bơ vơ, làm cho đời bớt thấy ngắn ngủi, nó hóa ra có đầu có đuôi, có nhiều liên hệ ấm áp… Thầy tưởng tượng sống gần trọn cuộc đời mà luôn mỗi sáng thức dậy thấy mình mở mắt trước một khung cảnh mới, thấy mình không chằng, không rễ, chơ vơ ra; nản lòng, kinh hãi lắm chứ phải không sao ?…
229. Đã có thời mà ai nấy đề dễ dàng có một quá khứ. Dân tộc có một quá khứ và từng người một cũng vậy, không ai bị mất quá khứ của mình, nhưng bây giờ thì không thế nữa!… làng xóm có dù may ra có còn phảng phất giống như cũ thì ta cũng gặp cái khung cảnh tâm lý khác; phong trào chính trị này ké tiếp phong trào chính trị kia, cuộc tàn sát này tiếp theo trận chiến nọ, tất nhiên có lỗ tai nghe lọt tiếng nói bên này, lỗ tai khác lại đón nhận lời kêu gọi bên kia, có kẻ gặp viên đạn từ bên tả bắn qua, có kẻ nọ tủi ngã xuống vì quả tạc đạn bên hữu ném lại…
232. Tôi nghe nói người Hòa Lan lập những hội bảo vệ các nhà máy xay gió…. họ luyến tiếc… dân tộc nào xã hội nào cũng gồm những người muốn sống trong một khung cảnh quen thuộc nhìn ra trời đất xung quanh thấy ổn định thì mới vững tâm… Nếu xáo trộn thay đổi quá…. xã hội này bị đày ra khỏi quá khứ, đày vào một cuộc phiêu lưu

Còn có thể trích nhiều nữa nhưng xin thôi, các bạn đọc sẽ thấy sự suy tư của ông Tú Từ Lâm còn nhiều chỗ hay hơn nhiều.
Với riêng tôi, nếu phải chọn ra ba truyện ngắn hay nhất của văn học Việt Nam thì tôi chọn là Chí Phèo của Nam Cao, Đàn Ông của Võ Phiến và … một truyện nữa của Nguyễn Ngọc Tư. Và bài viết này là nhắm cố thuyết phục với mọi người rằng truyện ngắn Đàn ông thực sự là xứng đáng với sự lựa chọn đó. Các bạn đọc truyện này bằng download ở link dưới, file pdf tôi vừa chụp vội ở cuốn “Ảo tượng” khi nghe tin Võ Phiến mất. Ảo tượng một tuyển tập truyện ngắn theo tôi là kỳ lạ với nền văn học miền Nam. Chỉ với 7 truyện ngắn nhưng nó như cái cột mốc cắm xuống và các tác giả cũng từ đó định danh mình.
—-
Thực lòng tôi không chủ đích dựa vào các ý kiến của chị Thụy Khuê để viết bài này, nhưng truyện này hầu như chưa thấy ai nói đến ngoài mấy dòng ấy của chị Thụy Khuê, và các ý kiến này lại trùng với bao ý kiến tôi đã nghe nói về truyện này suốt mấy chục năm qua. Hẳn chị Thụy Khuê cũng đồng ý là không một lần nói cho rõ ràng về chuyện đó cũng không được. Chị Thụy Khuê đã rất sâu sắc và uyên bác với bài tổng luận về Võ Phiến , tôi không bao giờ viết được bài như vậy; thế nhưng riêng chỗ truyện Đàn ông này chị cảm nhận không giống như tôi nghĩ, có thể đơn giản chỉ vì chị là đàn bà, nên nói lại chút âu cũng là điều cần thiết.
Link download truyện ngắn “Đàn ông”:
https://www.dropbox.com/s/x90cyjmkv…

CHIA SẺ
Bài viết trướcLÀM KHÁCH QUÊ HƯƠNG.
Bài kếMa Mị

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here