Vết lòng dao cắt nên trầm thương yêu

0
1299

Nguyễn Chiến

Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao đối với thơ đương đại, nhiều người làm thơ hôm nay không ngại thất bại, đã có những tìm tòi thể nghiệm. Họ tìm đến với tân hình thức, hậu hiện đại, hoặc trở về với chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực phương Tây… để làm cho thơ biến ảo phù hợp với “thực đơn” của người yêu thơ thế kỉ XXI. Nguyễn Bá Hòa, ở tuổi sáu mươi, làm một cuộc trở về, bằng thể thơ lục bát dân tộc, với tập Lục bát 60* .
Con đường thơ của Nguyễn Bá Hòa tưởng êm đềm, hóa gập ghềnh, trắc trở; bởi thể thơ này, như người ta thường nói dễ làm khó hay và liệu cái chất êm ái đặc hữu của thể thơ này có chuyên chở nổi điệu hồn của con người thời đại và sự bề bộn, muôn màu của cuộc sống hôm nay. Vả lại, trước Nguyễn Bá Hòa không phải không có những tài năng lục bát. Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Mai văn Phấn, Đồng Đức Bốn, Mai Bá Ấn… đã có những thể nghiệm thành công, góp phần làm thay đổi diện mạo thể thơ lục bát, đưa thể thơ này hòa nhập vào dòng chảy chung của nền thơ Việt Nam đương đại. So với lục bát trong Thuyền hạnh** và “Và bóng tôi”***, lần này, với Lục bát 60, Nguyễn Bá Hòa có bứt phá gì không, có khẳng định được phong cách của mình hay không?
Lục bát 60 là tập thơ của một người trên con đường trở về, như con ngựa “dừng bước chân hoang”, với “trái tim lõa thể” vô ưu trên “cỏ yên bình”, dưới “trời hư nhiên”, nghe “leng keng lục lạc nở xanh đường về” (Ngựa). Cái tôi trữ tình trong tập thơ có chút an nhiên trong tâm hồn:
đường xa nước kiệu
ráng hồng chân mây
bóng câu vạt nắng ngang mày
vay qua cửa mắt
trả ngày tháng xa
Dây cương ai nhuộm màu hoa?
nhạc mừng ai gẩy nhã ca khúc đời
xanh bờ cỏ mượt rong chơi…
(Cầm tinh ngựa)
Nhưng đó chỉ là thoáng qua! Vạt “cỏ yên bình” đó quá bé nhỏ, không đủ để ngã lưng sau những nhọc nhằn “trong cõi ta bà”. Người thơ nhận ra đời như sân khấu mà mình chỉ là “kẻ diễn vai thân phận”:
mở hồn đối diện nhân gian
diễn vai thân phận
khép miền sắc khôngao-dai-5
(Cầm tinh ngựa)
Từ đó, chủ thể trữ tình không còn giữ được vẻ tự tại của một kẻ ngộ được cái lẽ sắc không nữa. Anh chẳng thể bình tâm khi nhìn những được mất trong đời:
cờ đời nhẵn mặt pháo xe
thua đau nước ngược còn che mắt nhìn
(Ngựa)
Chất thiền chỉ còn bóng dáng bên ngoài; chất thực, chất đời tràn vào trang thơ tạo nên những xung động giàu giá trị nhân văn. Nhà thơ nhỏ nước mắt xuống mảnh đời bất hạnh trẻ thơ: em về đây chưa có tên/ai mang vứt bỏ bên thềm gió mưa; xuống cuộc đời lam lũ:
cánh đồng mùa lũ trắng phau
vô cùng
vô tận
một màu tan thương
dầm mưa mẹ dứng bên đường
trái tim ướt sũng mẹ thương cánh đồng
(Cánh đồng mùa lũ)
Cuộc đời dưới cái nhìn của anh có khi nghiệt ngã:
Cánh dơi treo ngược chốn thiền nương thân
(Đêm ở cạnh chùa dơi)
Nhiều khi chủ thể trữ tình thấy mình là kẻ mắc cạn giữa cuộc người:
đêm mắc cạn giữa hư danh
vẽ hoa phù phiếm để dành tặng nhau
khua môi hãnh tiến hoạt đầu
tụng xưng đẩy gió qua cầu gió ơi

đêm mắc cạn giữa thơ người
loay hoay giải mã những lời huyễn mơ
gió trăng sa xuống dại khờ
người khôn đến đỉnh lập lờ nghĩa nhân
(Đêm mắc cạn)
Văn giới cũng trường văn trận bút, cũng đắm đuối hư danh, cũng lắm kẻ hãnh tiến, cũng văn nghệ hoạt đầu! Người thơ buồn và cô đơn biết mấy!
đêm
là đêm
của riêng mình
(Đêm mắc cạn)
Nỗi đau từ tim lan ra cảnh vật:
vàng đau con nắng khóc chiều
chơi vơi héo giọt buồn hiu hắt buồn
(Người)
mặt sông ai rạch tím bầm
(Bến chiều)
Trăng, sao cũng “xấu xí”, “méo mó”:
vầng trăng xấu xí cợt cười
ngôi sao méo mó góc trời mặc ai
(Tiếng sáo)
Tình yêu, không còn thơm mùi thiền, không còn “yêu chay” như trong tập Thuyền hạnh nữa. Cái tôi trữ tình đã leo lên “đỉnh tình”, “đỉnh đam mê”. Khi thì lãng mạn ướt át dưới mưa:
ta dìu nhau đi dưới mưa
nghiêng rơi ướt vạt đón đưa chạnh lòng
Lúc nhung nhớ đến vàng vọt cõi lòng:
câu thơ lạnh giữa lưng vần
trái tim cóng rét một phần không em
ngoài trời rả rích thâu đêm
đèn chong vàng mắt sũng mềm phố khuya
(Với mưa khuya)
Và hừng hực lửa tình:
em ào ạt
cánh đồng xiêu
lửa tình hừng hực đốt thiêu một thời
lời đầu tiên đã bốc hơi
nụ hôn nguyên sẹo
chim trời mỏi khô
(Đỉnh đam mê)
Trên đường trở về, tưởng bình yên; nào ngờ sóng gió; may mà có mẹ; anh nấp vào lòng mẹ, nghe lời ru của tình mẹ:
mái tranh dưới tán vông đồng
tao nôi đọng tiếng ru nồng đời con

(Ngồi nghe mẹ kể)
Trái tim thơ được sưởi ấm, “hồn tươi mới nụ”, anh hòa vào giữa lòng đời, cảm nghe niềm vui từ mọi ngõ ngách của cuộc đời:
cà phê góc phố mở hàng
giọt ban mai nhuộm tiếng đàn lung linh
một ngày mới
thật yên bình
trẻ con ríu rít chân xinh đến trường
đôi quang gánh
mớ rau vườn
nửa mang ra chợ
nửa đường khách quen
(Ngày mới)

Một cái tôi đa diện, đa sắc màu như thế hứa hẹn một sự bung phá ở hình thức biểu đạt. Bản chất của lục bát là đều đặn, nhịp của lục bát là nhịp ru. Người làm thơ lục bát hôm nay một mặt phải dứt khoát thay đổi diện mạo thể thơ này để nó có thể hòa nhập vào dòng chảy của thơ Việt đương đại, mặt khác cũng phải giữ được hồn cốt của một thể thơ đã sống cùng dân tộc đến mấy trăm năm. Nguyễn Bá Hòa rất có ý thức về điều này. Anh vẫn trân trọng đặc tính của thể thơ này, đồng thời có những cố gắng làm mới nó.
Nhịp lục bát truyền thống là nhịp chẵn; lấy nhịp 2/2 làm cơ sở. Lục bát 60 đã sử dụng phổ biến nhịp lẻ (53/60 bài). Nhiều bài, nhịp lẻ tạo nên độ ngân rung khác với thơ lục bát truyền thống:
rồi những đêm / sương chơi vơi 3/3
lưỡi liềm treo / một góc trời / soi chung 3/3/2
khuya đỏ quạch / tiếng côn trùng 3/3
đường cày trăng vỡ một vùng miên man
(Điều bình dị)
một ngày xa / lại hững hờ 3/3
nhặt hoàng hôn / để tuổi thơ / trở mình 3/3/2
tiếng ve trong cuốn tập xinh
bài ngụ ngôn /
gởi vô tình / đi xa 3/3/2
(Tiếng ve)
Nhiều bài ngắt nhịp rất lạ, hiếm thấy trong thơ lục bát:
nay / đang lãi / để nợ nần / kiếp sau 1/2/3
(Nhong nhong)
nỗi buồn dài / tiếng thở / trăm năm về 3/2/3
(Sông bấc)
ngợp sông
choáng biển
gió

vực sâu 2/2/1/1/2

xoay
xoay
chấp chới
về đâu
bãi bờ 1/1/2/2/2
(Sau những ngày rối loạn tiền đình)
Biến hóa trong ngắt nhịp (nhịp chẵn, nhịp lẻ đan xen), sự nhịp nhàng giảm đi, tạo điều kiện cho nhà thơ diễn tả những gai góc của cuộc đời, những sắc thái phức tạp của tâm hồn con người. Nguyễn Bá Hòa còn dùng dấu câu làm thay đổi phần nào tính êm đềm cố hữu của bài lục bát. Có câu thơ như lời nói thường ngày, nhịp thơ gần với nhịp đời:
ừ! thì cảnh ngộ éo le
thì số phận! thì vòng xe luân hồi
(Tuổi thơ gọi)
Tách dòng, ngắt dòng là hiện tượng khá phổ biến trong lục bát Nguyễn Bá Hòa (19/60 bài). Cách xử lí này làm giảm rõ rệt tính đối xứng đều đặn. Vì thế, dòng thơ lục bát gần gũi với câu thơ tự do hơn:
vàng
rơi
rơi
vàng
bay
bay
rắc lên ngực áo khuy cài hồn nhiên
lẳng lơ trên mái tóc huyền
vương trên môi mắt
ngợp miền kiêu sa
(Phố sưa)
Tách dòng, ngắt dòng bậc thang, câu thơ lục bát dòng ngắn dòng dài trở nên lạ lẫm, khả năng biểu đạt, sức chứa của nó sẽ lớn hơn, rộng hơn.
Để lạ hóa câu thơ lục bát của mình, Nguyễn Bá Hòa mạnh dạn “tấn công” vào luật hài thanh bắt buộc: B (bằng) – T (trắc) – B (bằng) ở tiếng thứ 2 – 4 – 6 của câu lục; mở đường cho việc tăng cường khả năng biểu đạt cho thể thơ này (Trọ, Lỡ, Đỉnh đam mê, Tản mạn về rừng, Chiêm bao, Mùa lá rụng, Mà sao? Biển đêm, Đêm mắc cạn, Màu rêu quê ngoại, Đêm Volga, Tuổi thơ gọi, Tháng chạp, Tiếng sáo, Cánh đồng mùa lũ, Điều bình dị, Giọt nắng cuối ngày, Đêm huyền diệu…).
Câu thơ toàn thanh B (bằng):
mùa thu về bên kia sông
(Trọ)
Hoặc thanh T (trắc) ở tiếng thứ 2 và B (bằng) ở tiếng thứ 4:
chẳng hiểu sầu hay đa mang
(Chiêm bao)
Rõ ràng, ở những trường hợp này, câu thơ lục bát không còn là lục bát “rin” nữa, chiếc áo dài lục bát truyền thống đã có một đường may mới.

Nguyễn Bá Hòa, như cách nói của anh trong Thay lời tựa, muốn “dừng lại để nhìn về sau những năm tháng chân cứng đá mềm” và “khảo sát sự biến thiên của cuộc đời mình trong khoảng sáu mươi năm”. Biết vậy, nhưng tôi không thích nhan đề của tập thơ – Lục bát 60. Nó gợi lên cái gì ở phía tàn phai. (Nhà thơ thì không có tuổi, nhà thơ thì luôn trẻ trung). Điều này có liên quan đến thi pháp đặt tên cho bài thơ. Nhan đề trước hết giúp người đọc nhớ và phân biệt bài thơ này với bài thơ khác; nó thường thâu tóm tinh thần cơ bản của bài thơ, cũng là chỉ dẫn để bạn đọc bước vào thế giới thơ. Trong 60 bài thơ chỉ có khoảng gần phân nửa nhan đề có chủ ý thẩm mĩ. Bóng thu, Đỉnh đam mê, Đêm mắc cạn, Ảo mùa, Mây lục bát, Trăng lục bát, Hoa bất tử… là những ẩn dụ giàu sức gợi. Những nhan đề chỉ có một chữ: Ngựa, Ngỡ, Lỡ, Tuổi… ngắn nhưng có âm vang. Những nhan đề bỏ lửng như Mà sao? Khi còn có mẹ, Đêm ở cạnh chùa Dơi, Sau những ngày rối loạn tiền đình, Tuổi thơ gọi… gợi lên những mối dây liên tưởng đồng sáng tạo. Còn lại là những cái tên nằm xệp trên trang giấy như Tam kì vào xuân, Hạ Long, Non bộ, Tản mạn về rừng, Diều quê, Tình mùa đông, Đường trần… Chưa có nhan đề nào mang tính bất ngờ, mang chứa nghịch lí trong đời sống, thu hút được sự chú ý đặc biệt của người đọc.
Ngôn ngữ thơ trong Lục bát 60 có sắc màu riêng, đủ sức truyền tải nỗi niềm 60 năm của một cái tôi vừa muốn thanh thản, sau khi đã trải bao mưa gió của đời, một chiều bỗng thấy lòng “ngập tràn niềm vui” vì suốt đời “làm người thuần thiện” (Ngỡ); vừa mang nỗi đau của một người nghệ sĩ trước đắng cay của phận người. Nhưng đọc suốt tập thơ, nhiều người đọc cảm thấy hơi “vất vả” khi phải tiếp cận với cả một hệ thống từ Hán Việt mang “màu sắc kinh kệ”, ít bám thấm bụi đời: an niệm, bản ngã, cổ lục, cố xứ, cõi thiền, du tử, định mệnh, giác ngộ, hóa sinh, hồng tuyền, hồng hoang, hoàng y, hồi qui, hư nhiên, hư vô, hư không, hữu hình, khổ hạnh, luân hồi, nguyên khai, nguyên sinh, phù vân, phù sinh, sơ nguyên, sinh linh, sắc không, ta bà, trùng lai, thế tục, thế nhân, tiền duyên, thiền tịnh, thiên định, thế gian, tự tại, tịnh tâm, thiên hà, trầm tịch, u minh, vô lượng, vô thường, vô biên, vô ngã, vô hình, vô minh, vô vi, vô nhiên, vô ưu, vô tận, viễn du, vĩnh hằng, xuân khai… Không thể yêu cầu người thơ này từ bỏ một nét phong cách đã định hình. Nhưng nói như nhà thơ Nguyễn Duy: “Văn chương thời nào cũng cần đụng đến kinh mạch của xã hội” thì lời thơ cần để cho hơi thở của cuộc đời bình dị làm ấm nóng. Và thực ra, chẳng có từ nào hay, chữ nào dở; vấn đề là đặt nó ở vị trí nào để nó lung linh, bất ngờ, tạo nên hiệu ứng thẩm mĩ. Nhưng thực tế cho thấy, trong tập thơ, câu nào, bài nào giàu chất thơ đều thấm vị mặn của mồ hôi, nước mắt cuộc đời. Bài Tuổi thơ gọi, Tiếng ve, Cánh đồng mùa lũ, Điều bình dị… tạo được ấn tượng không chỉ ở sự hồn hậu, chân thành trong cảm xúc mà còn ở ngôn ngữ bình dị, đời thường.
Từ Thuyền hạnh đến Lục bát 60 đã cho thấy một hướng thơ của Nguyễn Bá Hòa: ngày càng để hồn thơ bám rễ vào đời sống, chất đời tan thấm dần vào sinh quyển thơ; từ đó tạo ra những bung phá ngoạn mục ở thể thơ lục bát. Trân trọng người thơ đã ý thức và cố gắng làm mới thơ mình khi vết thương đời đã hóa thành“trầm thương yêu” trong thơ:
vết lòng dao cắt nên trầm thương yêu
(Sông bấc)
……………………………………………………..
* Lục bát 60, NXB Hội nhà văn, 2014
** Thuyền hạnh, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2010
*** Và bóng tôi, NXB Hội nhà văn, 2013

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here