VỀ BÀI THƠ ” PHẬN ÁO” CỦA  NGUYỄN TUẤN.

0
191

Dương Diên Hồng

Chiếc áo là một đề tài rất quen thuộc của thơ ca truyền thống dân tộc từ ca dao đến thơ ca bác học bao đời nay. Gắn với chiếc áo là hình ảnh con người Việt Nam với đủ mọi dáng vẻ trong cuộc sống hằng ngày. Viết về chiếc áo sẽ rất khó vì trước nay đã có nhiều thơ hay treo đầy vách mộng trong phòng triển lãm Thơ của nước nhà, nếu chịu khó tập hợp chắc là chân dung của các bài thơ về áo cũng muôn màu muôn vẻ và đẹp lắm lắm… Và trong thế giới nghệ thuật ngôn từ dành cho áo, theo tôi, bài “Phận áo” của nhà thơ Nguyễn Tuấn viết rất dễ thương.
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ bộc lộ niềm trăn trở:
” Chỉ là tấm vải che thân
Mà sao bao nỗi nợ nần đa đoan”
Cấu trúc cặp lục bát là câu ghép được khởi đầu bằng 2 cụm từ kết nối: ” Chỉ là” ….” Mà sao”và ẩn đi chủ ngữ để chuyển câu từ mục đích trần thuật sang câu hỏi. Và câu trả lời chính là đề tài mà tác giả muốn giới thiệu. Ngay cách đặt vấn đề đã có sự chiêm nghiệm về cách nhìn cuộc sống: áo nhìn bằng mắt thường, lướt qua hình thức đơn giản nó chỉ là tấm vải che thân. Ai cũng có tấm vải ấy khi bước ra xã hội, trừ những người không bình thường. Là tấm vải thôi nhưng lại khiến nhà thơ day dứt suy ngẫm đa đoan khi nhìn thấy nhiều điểm khác biệt về số phận của từng tấm áo, đại diện cho con người trong xã hội đương đại. Thủ pháp hoán dụ được tác giả dùng đã kích thích và đưa người đọc từ sự bàng quan, ngoài cuộc bước vào một thế giới người đa đoan đang mượn áo nói hộ. Nỗi niềm vương nợ với thân phận con người đã khiến nhà thơ ” áo trắng” nhập cuộc với sự muôn màu của ” Phận áo”.
Và thế là ” Phận áo” bắt đầu với sức hút của chị em. Mà đúng thôi, nói về áo làm sao không rung cảm với vẻ đẹp của phụ nữ :
Tứ thân em giấu đoan trang
Bà ba chị giữ dịu dàng nết na
Tung bay trong gió thướt tha
Áo dài ơi cho hỏi nhà… ở đâu?”
” Người đẹp nhờ lụa”, xưa nay, văn chương thi phú luôn ca ngợi những tấm áo truyền thống đại diện cho phụ nữ Việt Nam từ Bắc chí Nam. Áo tứ thân của phụ nữ Bắc bộ, áo bà ba của phụ nữ Nam bộ và chiếc áo dài – trang phục chung cho phụ nữ Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay. Cả ba loại áo đều rất hợp với dáng phụ nữ Việt Nam, cái dáng thanh mảnh, nhỏ nhắn nhưng tiềm ẩn bên trong một sức mạnh tinh thần bền bỉ. Bản thân ba kiểu áo vốn đã đẹp khi gắn với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam càng đẹp. Và trong sự cảm nhận về tính thẩm mỹ của phận áo, tác giả còn chịu sự chi phối của các nét đẹp ở phẩm chất tinh thần người phụ nữ mà chúng ta luôn quý yêu: đoan trang, dịu dàng nết na và thướt tha trong gió… khiến bao chàng trai ngơ ngẩn muốn theo áo về nhà…
Đang thuyết minh khái quát những tấm áo đẹp, tác giả chen vào một câu hỏi cho “áo” cũng là cho ” em”- thần tượng chiếm lĩnh cái đẹp từ vẻ ngoài tấm áo đến tính cách tâm hồn. Và câu trả lời đã làm say đắm lòng người, được tái hiện trong bài thơ như một mực thước bao đời không phai, khẳng định rõ giá trị truyền thống về cái đẹp. Nói một cách khác, dù có mặc áo gì chăng nữa thì ở phụ nữ cái nết vẫn đánh chết cái đẹp. Câu trả lời đã tôn vinh cái đẹp của nết na những phận áo mọi miền:
” Áo mặc không qua khỏi đầu
Mắc chi anh hỏi nhà đâu làm gì?
Nhà tui ở cuối đường ni
Có con chó dữ nhớ đi từ từ”
Vừa khép nép, từ tốn vừa mở lòng khoan hòa, vừa làm ra vẻ xa lạ nhưng cũng hết sức quan tâm, lo lắng cho người để ý mình. Đoạn thơ đã vẽ chân dung tính cách hai mặt của con gái : hồn nhiên, lao xao, rất làm dáng và ra điệu bộ bất cần- cốt là sợ bị đánh giá về nết na, phẩm hạnh nhưng cũng rất có lòng hiếu khách, biết trân quý người ái mộ mình. Tác giả hiểu chiều kích của áo nên mượn câu trả lời của nàng để khái quát cách nhìn của mọi người về “số đo” của áo. Xưa nay ” áo mặc không qua khỏi đầu” là lẽ chung. Và dù hôm nay, những quan niệm có vẻ cởi mở cho phận áo thực chất cũng còn mang tính hình thức. Người đời vẫn lấy thước xưa đo và khẳng định chiều kích “không qua khỏi đầu” của áo là bất dịch.Thì ra trong cái đẹp của tấm áo bên ngoài, cái phận áo của đàn bà luôn bị giới hạn trong tầm kiểm soát của gia đình, của sự đặt để từ cha mẹ, của sự xoi mói từ cộng đồng và sự đe dọa của tai mắt có ý nghĩa ” bảo vệ” cho phụ nữ được ẩn dụ qua hình tượng ” chó dữ”. Thế nên, cô gái dù muốn thoát khỏi vòng rào gia phong để đến với tình yêu tự do thì cũng chỉ là sự vượt thoát tinh thần, cũng chỉ dám quan tâm nhắc nhở chàng trai theo đuổi mình bằng cái kiểu” Tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Dường như nhà thơ bác sĩ có vẻ rất say tính cách nền nếp theo gia phong của người phụ nữ khi thể hiện ý tình trong khổ thơ trả lời này ?
Từ chỗ ưu tư cho phận áo đàn bà, tác giả nhìn rộng ra nhiều phận áo hơn trong đời thường:
” Còn đây áo ấm tặng người
Để cho khỏi rét tháng mười, tháng ba
Thương chồng lính trận phương xa
Nàng Bân khâu áo gởi ra chiến trường
Mẹ cha một nắng hai sương
Cơm ăn lưng chén, áo nhường cho con
Mai sau gấu rách vai mòn
Công cha nghĩa mẹ vẫn còn khắc ghi
Và ai xin chớ đừng vì
Đói thì không sạch rách thì không thơm
Ruộng sâu bắt ốc, mò nơm
Áo tơi mẹ mặc sớm hôm ngoài đồng
Lũ là lũ lượt má hồng
Xin đừng “kiệm” áo đau lòng mẹ cha.”
Vẫn là áo đẹp đấy thôi! Áo ấm của ” lá lành đùm lá rách” , áo của nàng Bân chung thủy dõi theo chồng, áo của mẹ cha một nắng hai sương…
Đoạn thơ này, xét về ngôn từ, tác giả viết rất bình dị, như khẩu ngữ trong giao tiếp. Nhưng chất tình và cái tâm đã thấm vào nhạc thơ, hồn thơ: đó là lòng biết ơn sâu sắc đối với những phận áo vô danh, không hề để lại tên tuổi trên bảng vàng, bia đá- những phận áo nhân dân, sống bình dị rồi về cõi hư vô cũng bình dị như chính họ. Nhưng họ đã làm nên cuộc sống cho nhiều thế hệ con cháu. Chiếc ” áo tơi” là hình tượng đẹp và gợi nỗi xót xa cho phận áo nghèo khổ của mẹ cha. Cái rách ở đây là rách thơm, rách sạch và thấm sâu nghĩa tình, nặng nợ của đời sau đối với đời trước. Cái rách thiêng liêng, cao quý đối lập với cái rách về nhân cách con người trong một xã hội cố tình xé toạc mọi thứ mà cứ mặc nhiên xem đó là mốt, là cái đẹp khỏa thân của sự phô bày con người cá nhân. Toàn bộ đoạn thơ là lời xin khẩn thiết, day dứt một nỗi lo: lo thế hệ trẻ vô cảm quên đi ” công cha nghĩa mẹ” và lo nhất là phụ nữ Việt Nam đánh mất chính mình.
Tôi rất thích hai câu thơ này:
Lũ là lũ lượt má hồng
Xin đừng “kiệm” áo đau lòng mẹ cha.”
Nói ” xin đừng kiệm áo” là cách nói giảm, nói tránh, rất ý nhị hàm chứa sự phê phán cách ăn mặc thiếu vải, hở hang, khoe của… ở giới nữ. Đó là dấu hiệu cho sự băng hoại đạo đức, sự học đòi cách tân đôi khi không phù hợp với bản sắc của dân tộc. Phụ nữ Việt Nam vốn đẹp như tác giả miêu tả ở hai khổ đầu thế nên nếu xa rời vẻ đẹp ấy… thì nguy cơ sẽ làm cha mẹ đau lòng, sẽ phủ nhận hết tất cả những tinh anh của cái đẹp mà ông bà, cha mẹ chắt chiu bao đời…
Đoạn kết thúc bài thơ là điểm nhấn thể hiện rõ tư tưởng chủ đạo của ” Phận áo” được tác giả gửi gắm trong thế nén chặt:
“Làm quan phải biết xót xa
Áo mình đang mặc dân ta trả tiền
Cuộc đời nhiều lắm ưu phiền
Nhường cơm sẻ áo làm duyên cho đời”
Nói gì thì nói, phận áo của kẻ bề trên phải thấu: tấm áo quan mặc là của dân ban. Làm quan là sống nhờ dân. Dân là gốc của nước và dân ví như nước có thể làm lật thuyền và đẩy thuyền. Câu kết là môt câu chốt đẹp cho mọi thân phận. Tác giả nói với mình, nói với tất cả về một đạo lý truyền thống mà chúng ta từng nằm lòng ( có lúc vẫn cần được nhắc, nếu không sẽ dễ bị quên khi đời lắm ưu phiền). Cái tâm sáng của bài thơ rất đỗi bình thường mà nên thơ:
“Cuộc đời nhiều lắm ưu phiền
Nhường cơm sẻ áo làm duyên cho đời”
Đích thị đây là nơi điểm nhãn, kết nối các phận áo với nhau trong nghĩa tình ” đồng bào”, là cái duyên thơ, là con mắt thơ đẹp và sâu khiến ta thêm nhớ, thêm trân quý tấm lòng của bài thơ ” Phận áo” – tác phẩm bình dị và dễ thương của nhà thơ áo trắng – bác sĩ Nguyễn Tuấn.
26/6/2017
DHD.
CHIA SẺ
Bài viết trướcm ê s ả n g
Bài kếCUỐI MÙA

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here