SÁNG CẢM – LỜI TỰ TÌNH CÙNG NÀNG THƠ CỦA NGUYỄN HÀN CHUNG.

0
464

DƯƠNG DIÊN HỒNG

Sáng cảm
Nguyễn Hàn Chung

 

Sáng nay anh chậm rãi buồn
vì mẫu đơn không chịu nở
anh phát giác ra mình yêu vợ
từ rất lâu
trong khi vợ anh suốt ngày chì chiết
bụng anh bự thế kia
suốt ngày ngồi miết
bịa ra những mối tình thống thiết
mua vui cho người mà mình lại đau

Sáng nay anh ra vườn bắt sâu
không để nó thậm thụt với mẫu đơn hàm tiếu
những nàng quế,tía tô ,ngò , đậu bắp  buồn rung rinh
anh  chợt hiểu
đời mình chỉ đeo đuổi cái phù du hương hoa
vô ơn với rau cỏ nuôi mình
có thêm vitamin qua cơn táo bón

Sáng nay và nhiều buổi sáng khác
anh chỉ bận tâm
tại sao mẫu đơn không chịu nở
tại sao phù dung lại mau tàn
nhưng thế nào cũng hái một bó rau lang
cho nồi canh trong bếp

 

Rau cỏ ơi !
có bao giờ là hoa đâu
mưa nắng kiếp nào cũng
truyền đời thiêm thiếp

Anh chậm rãi buồn
ngồi vào bàn viết tiếp
vô dụng những bài thơ
vô tích sự những bài thơ
8/6/17

Làm thơ vốn là nghiệp trời cho. Không phải ai cũng làm thơ hay được. Bởi vậy, tôi dù rất mê thơ, làm thơ như bò ăn cỏ nhưng đọc rồi lại thấy mình bé nhỏ làm sao giữa một vườn Xuân đầy hương sắc của các nhà thơ . Chiều nay mưa suốt, ấy thế mà tôi lại đang cảm được một buổi sáng trong lòng một nhà thơ phương xa, nghe nói ông từng là nhà giáo. Mà nhà giáo thì chung nghề rồi. Ái chà, ông giáo làm thơ hay nha. Mới biết ông đây thôi nhưng tôi thấy có sự đồng cảm trong cách nhìn đời. Ông làm thơ tình yêu hay và tự tình với nàng thơ cũnhg rất tình.
Không biết có phải vì ngày hôm trước, ai đó đã chọc trúng tim gan ông mà sáng nay ông cảm giọng buồn chi lạ:
Sáng nay anh chậm rãi buồn
vì mẫu đơn không chịu nở
anh phát giác ra mình yêu vợ
từ rất lâu
trong khi vợ anh suốt ngày chì chiết
bụng anh bự thế kia
suốt ngày ngồi miết
bịa ra những mối tình thống thiết
mua vui cho người mà mình lại đau”
Giọng tự sự rất tự nhiên. Câu chuyện cũng rất đời thường nhưng lôi cuốn người đọc ở cách sắp xếp câu thơ vừa kể vừa biểu cảm. Giọng hài mà lại bi. Tưởng kể vui hóa ra nghe thấm đẫm buồn. Tưởng trách móc hóa ra lại hàm ơn.Trong một chuỗi cái có lý mà vẫn ló dạng sự phi lý.
Hoàn cảnh tự kể là một buổi sáng. Buổi sáng lê thê, thời gian như muốn ngừng thở. Anh buồn trong sự tỉnh táo của cái ” chậm rãi” hết sức chủ động. Cách nói về tâm trạng đang bị gặm nhấm bởi một nỗi buồn như là đang đi dạo trong vườn. Cái buồn đến bên người cùng chăm hoa lá, cùng suy nghĩ và tự hỏi mình đã sống và cư xử thế nào với chung quanh. Một sự suy ngẫm đầy tích cực cho việc thanh lọc tâm hồn đó chứ! Đi tìm nguyên nhân nỗi buồn luôn là cái đích của con người trần gian. Nhà thơ vẽ chân dung mình nhưng ta bắt gặp trong đó hình ảnh của bao người, nhất là người ở độ tuổi ngoài ” đáo tuế“. Lý do đầu tiên mà anh buồn vì một loài hoa trong vườn anh chăm không chịu nở. Hoa thực hay mượn hoa nói người là chuyện của anh. Mà hoa không nở chẳng qua cái cớ gợi cảm hứng cho thơ và những nghĩ suy tiếp nối. Từ hoa, hình ảnh đại diện cho phái đẹp lại gợi nhà thơ nhớ đến phụ nữ. Thế là vợ hiện ra đầu tiên trong các loài hoa. Mà vợ được miêu tả rất thực, rất đời thường. Nàng ” chì chiết” vừa làm bực mình nhưng ngẫm lại cũng rất đáng yêu. Nàng trách chồng không vận động khiến bụng to. Rồi lại phiền chồng cứ ngồi mà làm thơ để rồi buồn…
Mới mở đầu mà đã có xung đột. Xung đột với nỗi buồn, với hoa mẫu đơn và với vợ… hay ở chỗ là nhà thơ rất điềm tĩnh, rất chậm rãi… Đó là một cách ứng xử của bậc trí thức ở độ tuổi về hưu, luôn từ từ trải nghiệm vẻ đẹp cuộc sống. Điều mà nhà thơ viết ra mới đọc lướt tưởng là buồn dữ lắm. Soi kỹ thì thấy ông có buồn nhưng ẩn sâu trong cái buồn là niềm yêu thiên nhiên, yêu gia đình, biết ơn vợ luôn bên cạnh chì chiết để quan tâm sức khỏe và chia sẻ vui buồn. Nói buồn mà lóe lên ánh sáng của niềm vui mãn nguyện vì có cuộc sống riêng rất hạnh phúc. Chuyện thơ ca cũng giống như hoa mẫu đơn, chỉ là thú hưởng ở bên ngoài. Thật ra điều thú vị nhất, chuyện được nói nhiều nhất là bà vợ dễ thương, cô nàng chì chiết chẳng qua là luôn quan tâm sát sao ông chồng… Thế nên, khi suy nghĩ về hoa, anh phát giác anh đã yêu vợ từ rất lâu…
Khổ đầu mở màn cho ” Sáng cảm” là một không khí tưởng lạnh mà nóng. Chen ngang cuộc sống riêng của tâm hồn yêu hoa, yêu thơ là vợ. Vợ là người mà anh đã yêu rất lâu. Và một lần nữa lại khẳng định: nàng đáng yêu trong sự chì chiết của nàng. Tạo ra sự đối lập trong cách nói và ý nghĩ, nhà thơ đã làm nên vẻ đẹp của một kiểu thơ rất gắn với đời. Giọng kể lưu loát, mạch lạc dẫn dắt người đọc vào câu chuyện rất thú vị…
Và đến đoạn hai thì ý thơ càng lúc càng sáng :
Sáng nay anh ra vườn bắt sâu
không để nó thậm thụt với mẫu đơn hàm tiếu
những nàng quế,tía tô ,ngò ,hành, đậu bắp buồn rung rinh
anh chợt hiểu
đời mình chỉ đeo đuổi cái phù du hương hoa
vô ơn với rau cỏ nuôi mình
có thêm vitamin qua cơn táo bón
Sáng nay và nhiều buổi sáng khác
anh chỉ bận tâm
tại sao mẫu đơn không chịu nở
tại sao phù dung lại mau tàn
nhưng thế nào cũng hái một bó rau lang
cho nồi canh trong bếp.
Đoạn này nói chuyện làm vườn. Bắt sâu, chăm hoa và cuối cùng là hái rau cho nồi canh. Cái day dứt bộc phát thành lời. Mượn chuyện hoa lá rau cỏ là để triết lý về cuộc sống. Cái chân lý giản đơn mà đôi khi con người dù biết vẫn quên bởi sự cám dỗ của sắc màu, hương lạ… để rồi trong một khoảnh khắc nào đó chợt ngộ ra: đời ta thật phù phiếm…
Thế mới là cuộc sống! Thế mới có thơ ca thấm đẫm nỗi buồn và làm say lòng người! Thôi thì phải có buồn, có tự trách mình thì ta mới có thể nhận ra chân giá trị nguồn sống của đời ta. Hoa bao giờ cũng được chăm và được bắt sâu cẩn thận. Còn ” những nàng quế,tía tô ,ngò ,hành, đậu bắp buồn rung rinh “vì có lúc ta lơ là… nhưng các nàng ấy luôn là nguồn sống bên ta, trong bữa ăn hằng ngày của ta…
Đoạn này đã khái quát một triết lý trong đời sống mà hình như ai cũng phạm phải : con người thường sa vào những giấc mơ hão huyền, phù hư mà quên đi nghĩa tình thực tại đang bao bọc mình. Cách khái quát bằng lối tự sự giản dị, gần gũi giúp mọi người dễ nhận ra. Giản dị như chuyện bó rau trong thức ăn mỗi ngày, thậm chí thiếu rau thì sẽ khổ, khổ đến mức không có nó không đi ra ngoài được luôn… Phải nói là nhà thơ chân thật đến hồn nhiên cực kỳ… Và chính sự kể lể chân tình đó đã làm nên nét dễ thương mang giá trị cái đẹp cao cho bài thơ. Đọc đoạn này, ta cảm giác như đang trò chuyện với nhà thơ và nghe ông nói chuyện bằng ngôn ngữ hằng ngày ( khẩu ngữ):
Sáng nay và nhiều buổi sáng khác
anh chỉ bận tâm
tại sao mẫu đơn không chịu nở
tại sao phù dung lại mau tàn
nhưng thế nào cũng hái một bó rau lang”
Liệt kê hai câu hỏi ngớ ngẩn về chuyện không cần hỏi rồi khẳng định một chuyện cần làm, không thể không làm.
Thế nào cũng hái một bó rau lang cho nồi canh..”. Đó là điểm nhấn để nhắc : ai cũng cần phải sống thực tế nhưng họ luôn khát sự lãng mạn. Điều phi lý là ta thường bị mất cân bằng do luôn chạy theo hạnh phúc phù du…
Khổ kết bài là lời than thở rất thật. Và nó thể hiện đúng nhất tâm lý con người. Đàn ông muôn đời vẫn là đàn ông. Khi đã có rau cỏ bên mình lại tiếp tục “ thiêm thiếp” giấc mơ hoa. Trong sự vận động của trí tuê và tâm hồn, nếu làm phép so sánh, giống loài có tư duy sáng tạo cao thường thuộc về giống đực. Và sự sáng tạo luôn tỷ lệ thuận với cảm hứng về cái mới lạ. Bản chất đàn ông luôn yêu cái đẹp của đàn bà. Thế nên sự đơn điệu của rau cỏ trong vườn tất yếu sẽ khiến đàn ông đi tìm hoa, chăm hoa để thay đổi cảm hứng. Hoa đã không nở. Nhà thơ cảm thấy bất lực với những mơ ước khát khao và thế là chỉ biết gửi lòng vào thơ ca:
Rau cỏ ơi !
có bao giờ là hoa đâu
mưa nắng kiếp nào cũng
truyền đời thiêm thiếp
Anh chậm rãi buồn
ngồi vào bàn viết tiếp
vô tích sự những bài thơ
vô dụng những bài thơ
Điệp khúc” Anh chậm rãi buồn” đã xuất hiện ở đầu bài thơ, giờ lại xuất hiện ở cuối tạo một vòng tròn khép kín tâm trạng rất cô đơn của người làm vườn, cũng là một nhà thơ. Đến đây thì ta đã hiểu tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Hàn Chung. Ông làm thơ không vụ lợi. Thơ không thể đem nấu như luộc rau hay nấu cơm cho món ăn nuôi cơ thể con người. Thơ là nhu cầu hóa giải nỗi buồn. Các cụm từ: ” vô tích sự”, ” vô dụng” được gán cho thơ của mình chẳng qua là muốn thể hiện sự khiêm nhường, không muốn quan trọng hóa việc làm thơ. Bởi vì nó tuy không phải là món ăn cho cơ thể sinh học nhưng là món thuốc tiên chống lại sự trầm cảm, nỗi buồn của một tâm hồn khao khát cái đẹp của cuộc sống, của thiên nhiên, khao khát sự tinh khôi khác xa với cuộc sống đơn điệu, dù rằng ông rất mang ơn cuộc sống ấy và yêu nó bằng tình yêu vẹn nguyên chung thủy.
Đọc bài thơ này, tôi nghe có cái gì đó rất xót, rất buồn – cái buồn thả trôi chậm rãi với thời gian của buổi sớm mà như chạy đua với một bóng hoàng hôn để sống hết mình, yêu hết mình trong từng khoảnh khắc nơi khu vườn tĩnh lặng của những nghĩa tình đẹp đẽ hoa lá, rau cỏ… mà con người đã may mắn được thụ hưởng, chăm sóc…
Càng đọc càng nhận ra chất mộc mạc gắn với tấm lòng thủy chung của một nhà thơ Việt xa xứ. Bài thơ gợi nét đẹp hồn quê trong rau cỏ mỗi ngày dù có khát khao chút mới lạ cũng chỉ là chút tự huyễn gửi gấm trong thơ ca vì thơ chính là điểm đến của tiếng lòng thi nhân khi vui, khi buồn. Làm thơ đã trở thành nhu cầu của người mang nghiệp con tằm rút ruột nhả tơ. Đôi khi nhà thơ cảm nhận nó vô dụng, chẳng qua vì không thoát khỏi tâm trạng dỗi hờn. Lúc tắm mình trong nàng thơ, nhà thơ từng cảm thấy bất lực khi đối diện với đỉnh hoàn mỹ, nơi có nữ thần nghệ thuật ngư trị, nơi luôn làm tan chảy những trái tim của con người trần thế biết cảm nhận thơ ca và luôn đòi hỏi quá đáng về sự hữu dụng của món ăn tinh thần này.

DHD 9/6/2017

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here