CHIM CHƠ RAO ĐẾN TỪ NÚI LẠ

0
990

Nguyễn Chiến

images

Thu Bồn là một hồn thơ dào dạt, cháy khát và nhiều nỗi niềm.
Như những thi sĩ khác, anh viết về quê hương, về Mẹ, về chiến tranh, về tình yêu, về những nỗi đau hằn lên trong tâm hồn anh khi chạm mặt với đời… Những điều rất đỗi bình thường ấy được anh viết với một giọng điệu nồng nhiệt, chân thành, hào sảng hiếm thấy. Quê nghèo Điện Thắng nát tan trong hai cuộc chiến tranh được anh diễn tả bằng những câu thơ khó quên:
Đất hỡi đất, nơi mẹ tôi cày cấy
Viên đạn bây giờ cày lên viên đạn năm xưa
(Hôn mảnh đất quê hương)
Nơi đó mẹ đã “cắt rốn cho con bằng một mảnh bom” và “thả neo vào mồm con bằng một chiếc vú” (trường ca Quê hương mặt trời vàng). Từ đó, anh lớn lên trở thành chiến sĩ, trở thành thi nhân gắn bó máu thịt với đời.
Thu Bồn tâm sự trong Nhà văn Việt Nam, chân dung tự họa: “Tôi bắt đầu làm thơ từ những ngày còn là cậu lính con đầu ghẻ rận và ốm yếu. Lớn lên khát mặt trời và đàn bà trong khu rừng không có bóng người, nhiều đêm tôi khóc… Thấm đẫm mồ hôi và máu của nhân dân mình…” Hồn thơ anh được nêu trong dòng sữa Mẹ. Anh lên đường trong cơn “khát mặt trời”:
Đất nước tôi nhỏ bé đẹp xinh
Mặt trời vàng và đêm rất đen

Đất nước tôi mơ ngựa sắt
Vẫn yêu khóm tre ngà
Nên thánh Gióng cũng nằm trên gióng
Mẹ cha tôi gầy đi không thấy bóng
Đất nước tôi dài theo dưa hấu dưa leo
(trường ca Quê hương mặt trời vàng)
Với anh, tình quê hương cũng nồng nàn tha thiết như với người yêu thương:
Tôi cúi xuống hôn mãnh đất quê hương
Như hôn người yêu sau ngày xa cách
(Hôn mảnh đất quê hương)
Huế trong anh “rất sâu”, với sông Hương “dùng dằng” hờn dỗi:
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
(Tạm biệt Huế)
Trong thơ anh có nhiều niềm thương ít nỗi ghét. Anh viết:
Tôi không còn thời gian để giận hờn buồn tủi
Trái tim này còn lại để yêu thương
Anh biết rõ cái xấu, cái ác, nhưng ít khi hằn học với nó. Bởi anh nhận ra một điều, như văn hào Lép Tôn-xtôi đã nói: “Cái đẹp không nhất thiết phải đấu tranh với cái xấu mà phải tự mình làm cho đẹp hơn lên”. Anh dành cả tình yêu thương cho đời, cho quê hương, cho “người thợ dựng thành đồng”, cho Mẹ, cho đồng đội, cho “em”… Trên cuộc hành trình đi tìm cái đẹp, anh đã dừng lại khá lâu bên “người đàn bà bên khu rừng không có bóng người” và nhận ra ở đó những giá trị vĩnh hằng
Ai bảo dịu hiền em không làm chiến sĩ
(Tre xanh)
Sao ơi em là cô con gái
Năm xưa hò hẹn cùng anh
Đã bao lần ông mặt trời giấu lửa
Anh tìm em vời vợi lá rừng xanh
(Bài ca chim Chơ rao)
Và hồn thơ “khát mặt trời” ấy yêu cỏ, yêu hoa và yêu cả thiên hạ:
Ta yêu cỏ thẹn bên cồn mả
Hoa tím em thường giả bông tai
(Qua sông Thu Bồn)
Thi sĩ “Gọi nắng mai lên vá lại trời” (Qua sông Thu Bồn), cầu xin nhan sắc “Thôi đừng cong nữa làn mi (Mong em về trước cơn mưa) tự trói mình bằng sợi tóc dài con gái:
Em về lấy tóc chẻ mây
Buộc anh đứng lại như cây sông Hàn
(Mong em về trước cơn mưa)
Và xin được “gọi bằng em tất cả những cô con gái” (trường ca Quê hương mặt trời vàng). Không hiếm khi nhà thơ ngã vào lòng mình:
Lấy khăn mà gói bơ vơ
Tay cầm nước mắt bao giờ qua sông
Gặp minh mang cũng mênh mông…
(Mong em về trước cơn mưa)
Thơ Thu Bồn nhiều khi từ cõi hữu thức trôi về cõi vô thức, song không rớt xuống vực thẳm hư vô siêu hình. Anh chủ động “lấy khăn mà gói bơ vơ”. Trong nỗi cô đơn không thể sẻ chia được của người nghệ sĩ, Thu Bồn không lạc vào băng giá mà tìm đến với Mẹ. Mẹ là điểm sáng ấm áp trong vùng sâu tâm tưởng của anh:
Xưa kia tráng sĩ hề da ngựa
Ta nay uống cạn mấy rừng mưa
Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm
Ta ôm xích đạo gảy vòng cung
Môi hôn ngọn gió thơm hoa trái
Núi cũng chiều ta đứng trập trùng
Ta cũng không ham chi nghiệp lớn
Bồ đào không có chẳng giai nhân
Cửa nhà thông thốc muôn phương gió
Túi rỗng nhiều khi bạn đỡ đần
Bơi qua biển lửa ta về lại
Gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn
Những cung xưa cũ lời em hát
Còn cháy lòng ta lửa thử vàng

Ta như con dế nằm trên cỏ
Đợi uống từng đêm giọt ngọc sương
Châu báu trọn đời con dâng mẹ
Là trái tim đau lấm bụi đường
(Hành phương Nam)
Bài thơ hào sảng, khí khái, ngang tàng; mang cái “khẩu khí Thu Bồn”, nhưng đầy tình yêu thương chứ không kiêu bạc, ngông nghênh. Trước sau Thu Bồn vẫn một lòng yêu người, yêu cuộc sống đến cháy lòng. Cho nên khi sắp từ giã cõi đời, con người thơ vẫn vậy:
Về đi em chợ chiều đã vãn
Nhớ mua cho anh một gói nhân tình

Em thân yêu thời gian còn đuổi kịp
Nếu không được trọn đời cũng xin trọn kiếp
Làm sao mai thắp nến tiếp bình minh
Thi sĩ lớn lên trên mảnh đất quê nghèo, được bú mớm nuôi dưỡng từ Mẹ, nên suốt đời tự nguyện giản dị hiến dâng:
Xin đừng nặn ta thành tượng thần
Xin đừng nặn ta thành non cao
Hãy nặn ta thành ông táo nhỏ
Cho nồi cơm thơm em bé nghèo hèn
(Đất)
Hồn thơ Thu Bồn không bao giờ chịu tầm thường. Anh muốn thành một tia chớp rạch trời, muốn “làm mây mang bão giông”, chứ không muốn làm cầu vồng lắm sắc:
Ta thích làm mây mang bão giông
Rạch chéo đất trời tia kiếm chớp
Thức reo làm thác ngủ làm sông
(Qua sông Thu Bồn)
Cuộc sống ngồn ngộn thế kia, hồn thơ Thu Bồn chỉ “hớp” lấy cái tinh ròng rồi ướp ủ hương cảm xúc làm cho nó lung linh chói sáng:
Ôi những con đường xưa dẫn đến tình yêu
Giờ cỏ mọc và găm đầy mảnh đạn
(trường ca Chim vàng chốt lửa)
Sau cơn mưa tình em
Cái thầm kín đã nhú thành chồi biếc
(Vấp một tiếng chim)

Những vần thơ tài hoa như thế không hiếm trong cõi thơ Thu Bồn.
Văn chương không có gì riêng không là gì tất cả. Thơ Thu Bồn có cái giọng hào sảng rất Quảng Nam. Hồn thơ Thu Bồn vút lên như cánh chim Chơ rao đến từ núi lạ. Điều quan trọng nhất ở anh là đã làm nên một cõi Thu Bồn.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here