Vì sao khoa học Việt Nam khó phát triển?!

0
1284

Nguyễn Đức Tùng4

Saigon và Seoul những năm 1960, nơi nào phát triển hơn? Câu trả lời khá hiển nhiên: Saigon. Năm mươi năm sau, nơi nào phát triển hơn? Câu trả lời lần này cũng rất hiển nhiên: Seoul. Trong 50 qua, Hàn Quốc đã phát triển hơn hẳn Việt Nam về mọi mặt, tất nhiên trong đó có khoa học. Ngay cả trong lĩnh vực toán học, là lĩnh vực “khá nhất” của Việt Nam, đồng thời là lĩnh vực mà cách đây mấy chục năm Hàn Quốc còn gần như là con số không, thì ngày nay Hàn Quốc cũng đã bỏ xa Việt Nam.
Không so được với Hàn Quốc, ta thử so với mấy nước láng giềng gần hơn và chậm tiến hơn, như là Thailand hay Malaysia, thì kết quả cũng “không mấy khả quan” cho Việt Nam. Các nhà khoa học Việt Nam (không kể những người lãnh đạo hoang tưởng về vị trí thứ 10 hay 20 gì đó của Việt Nam trên thế giới) tuy còn cãi nhau xem nền toán học của Thailand đã vượt hay còn thua Việt Nam, nhưng đều nhất trí rằng nếu chưa vượt thì cũng sắp vượt, còn nếu tính chung về khoa học thì vượt lâu rồi.
Tại sao dưới “sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước” mà khoa học Việt Nam lại đì đẹt như vậy? Tìm hiểu thực tế ở Việt Nam, có thể chúng ta sẽ hiểu tại sao?
Ở một trường đại học lớn nhất Việt Nam, người ta sắm hai cái máy thí nghiệm “tối tân” mấy năm trước đây, mỗi máy mua sắm lắp đặt mất mấy chục triệu đô la. (Con số này trên thế giới là khiêm tốn, nhưng với trường ở Việt Nam là to lắm). Và kể từ khi lắp đặt xong thì hai máy đều … đắp chiếu. Một máy là một thứ kính hiển vi cực kỳ tinh vi, nhưng được giao cho khoa địa chất quản lý là khoa … chẳng cần tinh vi đến mức đó, nên từ lúc được giao họ chẳng biết dùng làm gì. Còn một máy là máy gia tốc phóng xạ, để ngay … gần cổng trường, từ lúc lắp xong cũng chưa cho được hạt nào bắn vào hạt nào bao giờ. Các nhà khoa học thì an ủi rằng “may mà nó không chạy, không lại phóng xạ khắp trường”. Nghe nói các phóng viên báo chí không được phép tiếp cận, nên dù hai máy này đắp chiều chình ình đã lâu nhưng chưa hề có tờ báo nào đả động tới.
Ví dụ trên chỉ là một ví dụ điển hình của một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam: người có quyền tiêu tiền thì mua máy thật oách, thật đắt tiền (càng đắt mới càng có nhiều tiền “rơi rớt” vào túi), bất chấp việc những máy đó có thể không ai cần dùng hay biết dùng thực sự. Những ai dám lên tiếng phản đối đều có nguy cơ bị kết tội “chống lại đường lối chính sách của đảng và nhà nước”. Một vị trưởng khoa ở một trường đại học lớn miền trung có “nhược điểm” là quá ngay thẳng, không chịu ký nhận một cái máy được rót từ trường về khoa với giá kếch xù, với lý do là khoa không cần cái máy đó. Kết quả là ban giám hiệu trường cho vị này thôi chức trưởng khoa, cử người khác lên thay và ký nhận máy.
Một viện nghiên cứu thuộc bộ quốc phòng có một số máy móc khá tốt. Công việc chủ yếu ở đó là dùng máy đó để đi do thám thuê cho … công ty kinh doanh nước ngoài. Mọi người an ủi nhau, tuy rằng dùng tiền khoa học nhà nước đi làm việc tư, nhưng như thế còn tốt chán so với đắp chiếu, dù sao thì cán bộ còn được trau dồi thêm kiến thức (và nâng cao thu nhập) qua việc dùng máy công đi làm việc tư này, đỡ lãng phí.
Tỷ lệ tiền chi tiêu cho khoa học ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới: theo số liệu chính thức chỉ được có 0.21% GDP, trong khi những nước phát triển nhanh con số này phải ở mức 3-4% GDP (Hàn Quốc ở mức đó, Trung Quốc cũng đang hướng tới mức đó). Nhưng phải tính thêm chuyện là một tỷ lệ lớn tiền rót cho khoa học “bay hơi” và những dự án không đi đến đâu hết. Dù cho các quan chức có nói kiểu gì đi chăng nữa, thì khoa học ở VN rất ít được thực sự quan tâm, và cũng như ở các lĩnh vực khác, các khoản tiền rót vào đều bị tranh dành, chặt chém, đến được tay những người làm khoa học thật sự chỉ còn một phần nhỏ xíu.
Mà “ai quan tâm đến khoa học thực sự ở VN để làm cái gì”, khi mà khoa học cản đường của các “chủ trương lớn”?! Ngày xưa, khoa học cản đường giáo hội Thiên chúa giáo, nên giáo hội dọa đốt Galileo trên giàn thiêu nếu không chịu phủ nhận chuyện trái đất quay. Rồi “giáo hội cộng sản Liên Xô” tiêu diệt các nhà kinh tế học, sinh vật học v.v. vì những người này dám đưa ra các học thuyểt khoa học “phản cộng sản”. “Giáo hội” Việt Nam thực dụng hơn cả Giáo hội Thiên chúa lẫn Liên Xô, và cũng chưa đến mức đem bắn hay đem thiêu các nhà khoa học, chỉ bịt miệng họ hay vô hiệu hóa họ thôi. Một ví dụ điển hình là Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Các nhà khoa học nghiêm túc đã cảnh báo ngay từ khi chưa xây là công nghệ mà chính quyền lựa chọn hoàn toàn không thích hợp với dầu thô của Việt Nam. Không ai nghe. Kết quả: Dung Quất thành cái “thùng không đáy”, càng đổ thêm hàng tỷ đô la vào càng lỗ. Đấy là dân lỗ thôi, còn tất nhiên vẫn có những kẻ lãi đậm. Hay là bauxit Tây Nguyên. Không một nhà khoa học nghiêm túc nào lại có thể đồng tình với dự án đó. Nhưng nó vẫn được thực hiện, rồi hậu quả ra sao đời con cháu ta sẽ chịu.
Các nghiên cứu nghiêm túc về chất độc trong thực phẩm hay trong môi trường, về nạn phá rừng ở Việt Nam và do người Việt Nam phá ở các nước láng giềng, hay là về lịch sử, về thống kê, v.v., nếu đưa ra các kết luận khoa học dù khách quan nhưng “trái đường lối” sẽ nhanh chóng thành “bí mật quốc gia” bị xếp vào bóng tối. Thay vào đó là sự nở hoa của loại khoa học “không cần khách quan, miễn sao đúng chủ trương”.
Môi trường khoa học như vậy tất nhiên chỉ khuyến khích sự phát triển của loại khoa học “đúng chủ trương” nhưng không nhất thiết phải tôn trọng các nguyên tắc của khoa học. Hay nói một cách thô thiển là loại khoa học giả. Bất kỳ dự án nào, nếu có một tiến sĩ thật phản đối người ta sẽ tìm được ngay 10 tiến sĩ giả ủng hộ. Thế là dự án có cơ sở khoa học vững vàng rồi nhé, ai nói ngược lại là nói xấu chế độ.
Làm khoa học giả tất nhiên là dễ hơn làm khoa học thật. Điều này đúng trên toàn thế giới. Thậm chí có cả một “ngành công nghiệp” trên thế giới để cung cấp danh hiệu, bằng cấp khoa học “dán mác ngoại hẳn hoi” cho những người từ những nước như ở VN không làm được gì thật nhưng lại thích súng sính bằng cấp danh hiệu. Tiến sĩ, giáo sư, viện sĩ (hàng nhái) đều có cả, muốn bao nhiêu bài báo quốc tế (trong những tạp chí cũng hàng nhái) cũng đều có ngay, chỉ cần ít tiền là xong. Thế nên hiện có khá nhiều vị ở Việt Nam mà thế giới khoa học chẳng ai biết đến nhưng gắn trên người đủ thứ chức danh giáo sư, viện sĩ này nọ. Mới đây, một viện sĩ kiểu đó còn tậu thêm cả những giải thưởng, tổ chức ăn mừng linh đình, mời được cả bộ trưởng khoa học đến dự.
Thế bộ trưởng có hiểu gì về khoa học không? Điều này mọi người tự tìm hiểu. Có điều là, phần lớn những người lên làm quan khoa học hay giáo dục ở Việt Nam thời nay, từ Bộ cho đến Viện, không phải lên bằng con đường khoa học hay giáo dục, mà là con đường “của tổ chức”, đảng đoàn. Làm sao có thể đòi hỏi những người đó hiểu biết gì về khoa học. Đối với các cá nhân trong guồng máy, thì sự nghiêm túc khoa học có khi lại là nhược điểm làm hại đường công danh. Một vị lên giáo sư từ khi còn trẻ (do giỏi thật), được cán bộ ở một trường đại học lớn bầu thành hiệu trưởng, nhưng không được Bộ bổ nhiệm vì những lý do “chỉ có ở Việt Nam”. Dù lý do chính thức là gì chăng nữa, thì đều phải hiểu là “thiếu năm trăm lượng việc này không xong”, mà vị này lại nghiêm túc quá không chấp nhận được chuyện “năm trăm lượng”. Thế là không thích hợp với tổ chức rồi, trong khi mọi chức tước ngày nay đều có giá của nó. Đến xin làm giáo viên quèn có khi còn mất 400 triệu đồng nữa là hiệu trưởng đại học lớn.
Trong khi đó, “không nhất thiết” là khoa học thật, nhưng “hợp với bộ máy” thì có thể lên vị trí quản lý khoa học cao. Chung quy cũng là một cách làm ăn thôi mà: cần có đầu tư thì mới có chức, và có chức thì phải biết thu hoạch từ chức để tái đầu tư cho chức to hơn. Một ví dụ ở một trường ĐH lớn nhất VN, có vị nắm vị trí quan chức cao và nhòm ngó chức giám đốc to. Vị này thời làm nghiên cứu sinh thi tối thiểu còn trượt, chỉ đi buôn là “máu”, luận án thì “nhờ anh em viết hộ”, thế rồi bỗng chốc thành TSKH, rồi “giáo sư viện sĩ” ở “Tây”, về “nhảy dù” vào trường làm quan. Sách của vị thì do người khác viết, hỏi tại sao thì người đó nói “nhưng mà nó đối xử với tôi tốt lắm”. Rồi vị này lên giáo sư, rồi còn tranh cả các giải thưởng khoa học nữa!
Tại sao nhiều vị làm khoa học thật (tạm coi là thế) lại sẵn sàng viết sách thuê, luận án thuê cho những vị khoa học rởm? Vấn đề tất nhiên nằm ở tiền. Khi công việc nghiên cứu nghiêm túc được trả đồng lương chết đói, thì mọi thứ dễ dàng bị “thương mại hóa”, khó ai giữ được “phẩm chất của nhà khoa học” với mức lương chẳng đủ tiền xăng xe. Trong khi đó chỉ cần “nới lỏng lương tâm”, “lăn mình theo guồng máy” là thu nhập sẽ khá hơn hẳn, còn “khoa học thì thôi ai cần”.
Khoa học thật làm thật là khó, nhưng cái mác khoa học thì ai cũng muốn có. Bởi vậy mới có chủ nghĩa cộng sản khoa học, rồi tiến sĩ khoa học mác lê, rồi giáo sư công an hay giáo sư lịch sử đảng, v.v. Người ta nói rằng, trong đợt phong GS, PGS ở Việt Nam năm 2015, những ngành mà có nhiều GS, PGS được phong nhất là những ngành chẳng hề có công trình khoa học quốc tế. Ngành công an với nhiều GS mới đã đành (thôi ta tạm coi bí mật quốc gia), nhưng ngành kinh tế với nhiều GS mới cũng chẳng có bài báo quốc tế. Rồi ngành phương pháp giảng dạy cũng vậy, giáo dục đâu phải vấn đề của riêng Việt Nam, mà các GS, PGS mới chỉ toàn viết trong nước để đếm cho đủ công trình. Trong khi đó có một vài ngành làm nghiêm túc quá, khắt khe quá, “học đòi” tiêu chuẩn quốc tế, khiến nhiều đồng nghiệp trong ngành “tâm tư” khi thấy những ngành khác người ta lên PGS, GS “ào ào”.
Một đồng nghiệp VN kể chuyện, xin mãi PGS không được, vì tuy có công trình quốc tế nghiêm túc vẫn không được bầu (bị diệt ngay từ ở trường), rồi sau bao nhiêu năm cuối cùng cũng được. Đang vui vì được thì biết có vị khác khoa sử “chỉ biết phân biệt chân trái với chân phải” cũng lên PGS cùng đợt, thế là lại tịt hứng “tưởng là được gì, hóa ra như vậy”. Từ chỗ “biết phân biệt chân trái với chân phải” để thành PGS thì tất nhiên cũng cần vài trăm triệu tiền “bôi trơn cỗ máy”. Những PGS, GS kiểu “biết phân biệt chân trái với chân phải” tất nhiên sẽ dễ trở thành lãnh đạo khoa học và giáo dục, bởi “rất hợp” với guồng máy của chế độ Việt Nam.
Cái “guồng máy” đó không những có tài vô hiệu hóa những người nghiêm túc, mà còn có tài uốn người thẳng thành người cong (là những người sẽ bám được vào guồng). Một ví dụ là vị GS nọ, một thời oanh liệt lắm, nhà khoa học trẻ nổi danh với “công trình thế kỷ” (tuy rằng công trình thực ra bị sai và cũng chẳng phải là thế kỷ gì hết). Nhà khoa học này lúc trẻ giỏi thật, ăn nói rất hay, được nhiều đồng nghiệp mến, nhưng từ khi “vào guồng” thì khoa học xếp xó (tuy vẫn ngồi đủ thứ hội đồng), và ăn nói hành động ngày càng ngớ ngẩn ít tính khoa học. Cuối cùng thì vị có nhà lầu xe hơi (xe hơi từ thời còn rất hiếm ở Việt Nam), vợ con có lẽ cũng được nhờ, thành công rực rỡ theo kiểu học để làm quan, nhưng để lại được gì cho giáo dục và khoa học Việt Nam? Có khi là con số âm.
Voi vẽ thế cũng tạm được một cái vòi rồi. Guồng máy còn làm hỏng rất nhiều vị tài giỏi chứ không chỉ vị trên. Vấn đề là ở cái “guồng máy” mà các nhà khoa học (tạm coi là chân chính) đều tự nhận mình hèn không ai dám nghĩ đến chuyện thay đổi nó. Khi một trưởng khoa đại học trong lúc tranh cử nói “tôi không phải là đảng viên và cũng không có ý định xin vào đảng”, thì có thể coi là tấm gương của sự dũng cảm trong biển “hèn đại nhân” rồi!

(nguồn FB Tung Nguyen )

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here